tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
31.10.2008
Trần Hoài Dương
Miền xanh thẳm

17


Tôi đang mơ màng nghĩ, chợt có tiếng gọi:


- Thiện ơi! Em nghĩ gì mà ngồi thừ ra thế?


Giật mình ngước lên, tôi mừng rỡ nhận ra chị cả của tôi đang đứng trước đầu ngõ tươi cười nhìn tôi. Dưới chân chị là một túi xách căng phồng, miệng túi lộ ra mấy trái cam vàng tươi. Tôi chạy lại ôm chầm lấy chị. Chị vừa cười vừa xoa đầu tôi. Giọng chị chợt thảng thốt:


- Em ốm hay sao mà đầu nóng thế?


Tôi ấp úng chưa kịp trả lời thì chị đã nói tiếp, giọng lo lắng:


- Đúng là em sốt thật đây mà! Em bị mấy hôm rồi? Sao không viết thư báo cho chị biết? Thảo nào mấy hôm nay chị cứ thấy bồn chồn không yên. Mà sao ốm lại ra ngồi ngoài gió thế này?


Tôi không nói, cứ ôm ngang lưng chị, hai chị em dìu nhau vào nhà. Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra. Tôi lén đưa tay dụi, không để chị trông thấy. Một nỗi tủi thân bỗng lan nhẹ trong tôi khiến người tôi run lên. Giống như một đứa trẻ côi cút ngóng chờ suốt bao ngày tháng, mãi bây giờ người mẹ bỏ đi xa mới trở về. Lâu nay tôi cứ phải sống cứng cỏi, một mình bươn chải, giờ tôi chợt nhận ra mình còn nhỏ bé, yếu ớt bao nhiêu! Nhưng tôi vội gạt nhanh những ý nghĩ ấy, không muốn chị tôi phải lo lắng nhiều về tôi. Tôi vui vẻ đi lấy nước cho chị uống trong lúc chị ngồi bổ cam, vừa bổ vừa kể chuyện nhà cho tôi nghe. Chị cho biết mới nhận được thư của anh Lượng tôi gửi từ Lào Cai về. Công việc làm đường sắt vất vả lắm nhưng anh tôi rất vui vì sống độc lập. Anh ít tuổi nhất nên được các anh chị cùng đơn vị quý mến, hết lòng giúp đỡ. Bố tôi cũng đã đi làm phiên dịch tiếng Pháp và tiếng Anh cho Cục chuyên gia. Chị tôi cũng sắp tốt nghiệp trường Sư phạm, sắp ra dạy học…


Nghe chị tôi nói chuyện với một giọng ấm áp, đầy tự tin, trong tiếng nói luôn ẩn giấu một nụ cười, tôi thấy lòng mình thanh thản hẳn. Mọi khúc mắc, bối rối của đời sống bỗng nhiên đều trở nên đơn giản và dễ giải quyết. Trong cái mớ bòng bong hỗn tạp của cuộc sống thường nhật, đối với nhiều người khác, nhìn vào dễ chán nản, rối trí vì không gỡ ra được, nhưng đối với chị tôi, chị luôn bình thản, lần ngay ra được đầu mối rồi cứ thế nhẩn nha tháo gỡ, mọi chuyện dần được giải quyết một cách ổn thỏa, nhẹ nhàng. Chính nhờ có cái bản lĩnh bẩm sinh trời cho ấy mà chị tôi đã vượt qua được không biết bao nhiêu khó khăn. Ngày còn kháng chiến chống Pháp, bố tôi theo đơn vị quân y nay đây mai đó khắp nhiều miền đồi núi Thái Nguyên, mẹ tôi mất sớm, năm chị em tôi rau cháo tự nuôi nhau. Lúc đó chị tôi chưa đầy mười sáu tuổi. Phải cai quản bốn đứa em sàn sàn tuổi nhau, đứa bé nhất là tôi lên chín tuổi. Chị xông xáo đi kiếm việc làm để mấy chị em kiếm sống. Nhận thóc của Nhà nước về xay giã lấy tấm, lấy cám và ít tiền công. Nhận đay về se sợi ngang sợi dọc cho người ta dệt bao tải… Suốt đêm ngày mấy chị em làm chăm chỉ dưới sự điều khiển nhịp nhàng của chị. Rồi còn vỡ đất trồng sắn, trồng rau, nuôi gà… Không chỉ giỏi trong việc chỉ bảo các em trong gia đình, chị còn là một cán bộ hiệu đoàn học sinh năng nổ, hết lòng vì công việc của lớp, của trường. Việc nặng nhọc thế nhưng lúc nào cũng thấy chị tươi cười. Gặp ai chị cũng vồn vã, xởi lởi. Cả trường, từ các thầy cô giáo đến bạn bè học sinh ai cũng yêu mến chị. Đối với các em, chị yêu thương một cách giản dị, lặng lẽ, đằm sâu, ít biểu lộ bề ngoài. Tính chị xuề xòa nhưng cũng rất nghiêm khắc. Chúng tôi coi chị là một người mẹ thực sự. Ngày bé, tôi vừa yêu chị như yêu mẹ, vừa ngưỡng mộ chị như một thần tượng. Chị bảo gì, tôi nhất nhất nghe theo. Tôi nhớ có một lần mấy chị em đang xay giã gạo thì có tiếng ầm ì của máy bay “Bà già” và nhiều tiếng reo hò. Thì ra chiếc máy bay Đacôta mà chúng tôi thường gọi là máy bay “Bà già” chậm rì rì đang lượn vòng trên đầu, thả ra cơ man là truyền đơn. Những tờ giấy đủ màu bay rợp trời. Bọn trẻ con bất chấp máy bay quần đảo trên trời, túa ra khắp cánh đồng để nhặt. Mấy anh em tôi cũng ùa chạy theo. Chị Trọng tôi la lên:


- Chúng nó tuyên truyền nhảm đấy. Nhặt hết rồi đốt ngay đi nhé. Cấm không đứa nào được đọc những trò nhảm nhí ấy!


Chúng tôi thi nhau nhặt. Từng xấp, từng xấp vứt đầy góc ruộng. Nhiều đứa tò mò lén đọc. Riêng tôi, nghiêm chỉnh nghe theo lời răn đe của chị cả, cương quyết không hề hé mắt nhìn. Tôi chạy khắp chốn, đuổi theo những tờ truyền đơn đủ màu đang phấp phới chao liệng rồi lại lúi húi nhặt hết tờ này đến tờ khác. Tôi cởi cả áo, đùm một bọc lớn ôm trước ngực, nhưng vẫn ngoan ngoãn nghe lời chị, không cần biết những gì in trên đó.


Cũng giống như sau này về Hà Nội, lúc đầu tôi chưa thuộc hết tên đường tên phố. Thỉnh thoảng chị tôi dẫn tôi đi chơi phố, lúc dạo bộ, lúc nhảy xe điện. Chiếc xe điện nửa vàng nửa đỏ rung chuông leng keng, ngất ngưởng lắc lư chạy trên đường ray như một anh chàng ngà ngà say vui tính. Cùng đi với chị em tôi còn có mấy đứa trẻ bên hàng xóm. Chị bảo cho chúng đi cùng cho vui, rồi chị sẽ “chiêu đãi” cả bọn món kem Cẩm Bình nổi tiếng. Ngồi trên tàu điện, chị thường thử trí nhớ của bọn trẻ bằng cách đố xem bên ngoài đang là phố gì. Chị bảo phải tự nhớ ra, cấm không được nhìn lên các biển ghi đường, các bảng hiệu. Bọn trẻ kia láu cá, liếc vội lên các biển hàng, ngay lập tức chúng trả lời đúng phóc. Tôi thừa biết trò ma mãnh lộ liễu của chúng, nhưng tôi dứt khoát không bắt chước. Tôi cố tự nhớ lấy qua các đặc điểm mà mình đã ghi nhận ở những lần đi trước. Ban đầu thấy tôi trả lời chậm hơn bọn bạn, chị chê tôi kém thông minh. Nhưng sau hiểu ra, chị xoa đầu tôi, khen là tôi trung thực. Chị bảo phải trung thực ngay từ những chuyện tưởng như là nhỏ nhặt…


Hỏi chuyện học hành, sinh hoạt của tôi được một lúc, chị bảo tôi quần áo có chiếc nào bị rách, đem ra cho chị vá. Tôi nói có mấy chỗ rách, tôi đã tự vá lấy rồi. Chị cười:


- Giỏi thế kia à? Đem cho chị xem nào!


Chị không sao nhịn được cười khi xem mấy miếng vá của tôi:


- Sao cậu lại vá chằng vá đụp xiêu vẹo thế này? Chẳng khác gì vá bao tải. Thôi, để chị tháo ra vá lại cho.


Chị tháo hết các miếng tôi vá, khéo léo vá lại đẹp hơn hẳn. Tiện thể, tôi nói với chị:


- Chị xuống gấu hai chiếc quần cho em luôn thể. Ngắn quá rồi, kéo mãi cũng vẫn cũn cỡn không thể che nổi đôi mắt cá chân. Đứng trên bảng trả bài, mấy đứa con gái cứ nhìn em mủm mỉm cười, ngượng chết đi được!


- Thế là cũng biết ngượng rồi cơ đấy? Em chị sắp thành người lớn rồi! - Chị vừa ghé răng cắn chỉ vừa nghiêng mặt nhìn tôi cười hóm hỉnh.


Vừa lúc đó, anh Nhu và thằng Bảo đi học về. Thấy chị tôi, anh Nhu đứng sững lại rồi la lớn:


- Ôi giời, Trọng! Trọng đấy à? Lên bao giờ thế? Lâu quá rồi chúng mình mới gặp lại. Thế nào, Trọng đã ra trường chưa?


Hai anh chị nắm tay nhau, lắc lia lịa, cười nói cuống quýt. Ngày còn kháng chiến, hai người học cùng một lớp, là bạn rất thân của nhau. Được mấy năm, anh Nhu ở lại trường học tiếp, còn chị tôi đi thanh niên xung phong, về tiếp quản Thủ đô rồi đi học Sư phạm trung cấp. Thằng Bảo ghé tai anh Nhu nói nhỏ điều gì. Anh Nhu bảo nó thôi cứ ở nhà, chuyện đó để anh lo. Thấy hai người úp úp mở mở, chị tôi đoán ra, cười nói:


- Lo chuyện cơm nước phải không? Khỏi cần em ạ, chị đã mua sẵn thức ăn đây rồi.


Anh Nhu khen chị tôi:


- Trọng tinh thật đấy. Bảo nó thấy Trọng lên, muốn đi kiếm vài con cá về thết khách. Nó là vua sát cá mà!


- Mình đã mua cả ký thịt kia rồi! Đủ cả bắp cải, xu hào, tha hồ mà nấu nướng. Xuống tàu, mình ghé qua chợ rồi mới về đây.


Anh Hoàng và thằng Nam cũng vừa về đến đầu ngõ. Hai anh em chưa kịp vào nhà thì anh Nhu đã nói với ra:


- Hoàng và Nam ra ngay ngoài ruộng gánh nước tưới cải giúp bà Muộn đi. Gắng xong sớm rồi về ăn cơm. Mời cả bà Muộn về ăn luôn thể. Hôm nay có khách quý, ta mở tiệc ăn mừng…


- Ai là khách quý thế? - Anh Hoàng hỏi vọng vào.


- Bí mật! Bí mật! - Anh Nhu tươi cười, nói lấp lửng.


Chị tôi vừa ló đầu ra, anh Hoàng đã chạy ào tới, kêu to:


- Trọng! Trời ơi, Trọng! Lên bao giờ?


Lại rối rít tít mù lên. Hai anh chị nắm tay nhau, nhảy tâng tâng như trẻ con khiến mấy đứa nhỏ chúng tôi cùng bật cười. Ước gì chúng tôi cũng có một tình bạn lâu dài, vô tư thắm thiết như thế…


18


Đêm đó, hai chị em nói chuyện với nhau rất khuya. Chuyện này chưa dứt, chuyện khác đã ùa đến. Nhưng nhiều nhất vẫn là những kỷ niệm về mẹ tôi. Có lẽ vì sắp đến ngày giỗ mẹ. Thấm thoắt thế mà mẹ tôi mất đã gần chục năm rồi. Mấy lần, trong lúc nói chuyện, chị tôi cứ băn khoăn là kỳ này được nghỉ có hai ba hôm, chỉ đủ thời gian lên thăm tôi mà không lên được Yên Thế thăm mộ mẹ. Gần mười năm nay mẹ vẫn nằm một mình giữa lưng chừng đồi cô quạnh. Ngày trước, dân tản cư đông đúc, họ hàng nhiều, mấy anh chị em tôi sống quây quần bên mẹ. Chiến tranh kết thúc, mọi người trở về lại thành phố, vùng quê trở nên vắng vẻ, một mình mẹ ở lại giữa đất lạnh, chỉ có gió đêm ngày ù ù thổi.


Mẹ mất khi tôi còn rất nhỏ. Những kỷ niệm về mẹ chỉ thấp thoáng ẩn hiện trong tôi, lúc đậm lúc nhạt, rất khó nắm bắt. Kỷ niệm xa xôi nhất mà tôi còn hình dung được về mẹ là buổi sáng cuối năm 1946 ấy, cái buổi sáng cuối cùng gia đình tôi còn ở thị xã Hải Dương. Hôm ấy là một ngày tạnh ráo. Trời có nắng không, tôi không nhớ rõ. Bây giờ, trong ký ức tôi, chỉ còn là một màu lục nhạt kỳ ảo bao trùm lên tất cả. Trong lãng đãng sương mù của quá khứ, tôi vẫn còn thấy hiện ra mấy chiếc xe tay do người kéo đậu một dãy dài trước nhà. Mấy anh chị em tôi ríu ran cười nói, hớn hở tranh nhau trèo lên mấy chiếc xe. Tôi ngồi lọt thỏm trong lòng mẹ, bên cạnh một chiếc vali đựng quần áo, tư trang của mẹ tôi. Mấy chiếc xe nối đuôi nhau ra khỏi thị xã. Lần đầu tiên được thấy cảnh đồng quê, mấy chị em tôi vui không sao kể xiết. Chúng tôi gọi nhau, chỉ trỏ, trầm trồ, đi tản cư mà vui vẻ, hớn hở như được đi chơi xa. Tưởng như chỉ đi vài hôm rồi lại trở về, không ngờ đó là lần cuối cùng chúng tôi rời quê hương để đi vào cuộc kháng chiến dài đằng đẵng chín năm. Sau này nghe kể lại, tôi được biết, bố mẹ tôi hoàn toàn không chuẩn bị gì cho chuyến đi xa này. Cứ ngỡ chỉ chạy ra khỏi thị xã tránh bom đạn vài hôm rồi về. Đồ đạc, của cải khóa cửa để đấy, chỉ mang theo mấy bộ quần áo, ít tiền chi dùng tạm vài hôm. Không ngờ đi là đi luôn, coi như mất trắng hết cả. Kháng chiến chín năm kết thúc, do cuộc sống xô đẩy, gia đình chúng tôi cũng không trở về quê cũ nữa, mà đi biền biệt, mấy chục năm sau cũng không có mấy khi được trở về.


Tiếp đến là một kỷ niệm khó quên khác. Không biết hôm ấy mẹ tôi dẫn ba anh em tôi đi đâu mà qua một cánh đồng rộng. Đang đi, chợt có máy bay “Bà già” vè vè trên đầu. Mẹ tôi cuống quýt đẩy ba chúng tôi chui vào một cái cống gạch ven đường. Mẹ ngồi chắn ngoài miệng cống. Ba anh em tôi rúc rích cười nói còn mẹ thì hoảng hốt lo sợ mãi cho đến khi chiếc máy bay mất hút phía cuối trời. Thật giống cái cảnh gà mẹ xòe cánh che chở cho bầy con khi có diều hâu chao liệng trên đầu…


Rồi những ngày tản cư nay đây mai đó… Mẹ tôi bị bệnh hậu sản ngày một nặng. Hình ảnh về mẹ nằm bất động trên giường. Người thường nằm nghiêng, chân co chân duỗi, im lìm, mỏi mòn. Mỗi khi anh em tôi đi học về hoặc rong chơi ở bên ngoài ùa chạy vào, mẹ tôi uể oải ngoái nhìn ra, trên gương mặt xanh xao thoáng bừng lên nụ cười lặng lẽ, héo hắt. Tiếng mẹ tôi nhỏ nhẹ nhắc chị giúp việc lo cơm nước cho chúng tôi. Thấy tôi ăn uống chểnh mảng, mẹ không hề gắt gỏng nặng lời mà cố gượng ngồi dậy, tự tay xúc cơm cho tôi ăn, ánh mắt người vui hẳn lên khi thấy tôi ăn ngon lành.


Mẹ tôi ốm đau thế mà thuốc thang lại rất hiếm. Trên bếp, lúc nào tôi cũng thấy một ấm đất nấu lá nhân trần, hương thơm mùi bạc hà. Sau này lớn lên tôi mới hiểu bệnh mẹ tôi làm sao mà khỏi được khi chỉ chữa bằng giống cây dại mọc rất nhiều dưới chân đồi, nơi đất ẩm, thứ cây có một chút tinh dầu thơm và có từng chuỗi hoa xanh phơn phớt tím. Một ông lang già người Tày cắt thuốc cho mẹ tôi. Nhà ông ở cách xa chừng mười cây số. Mỗi lần đến thăm bệnh, ông đi bộ mất gần trọn buổi sáng. Có lần ông bị đau chân không đi xa được, ông phải cưỡi con trâu đến thăm bệnh cho mẹ tôi. Con trâu mộng cứ lững thững, đủng đỉnh đưa ông đến rồi lại thủng thẳng đưa ông trở về…


Mẹ tôi mất vào một buổi sáng mùa đông. Tôi vẫn còn hình dung ra được khá rõ lúc mẹ tôi hấp hối. Trong căn nhà tranh vách đất của bà thím tôi mà lâu nay đã dành riêng cho mẹ tôi nằm dưỡng bệnh, dưới ánh sáng mờ mờ, mẹ tôi nằm trên giường, cánh màn đã được cuốn lên cao. Mẹ tôi gày guộc, nhỏ bé lún giữa mấy tấm chăn. Bà Thượng tôi, bố tôi, cô tôi, mấy anh chị em tôi và một số người trong họ vây quanh nơi đầu giường. Mẹ tôi khóc không ra tiếng, thỉnh thoảng ngực mẹ tôi khẽ rướn lên vì những cơn ho yếu ớt. Mẹ cứ khóc mãi, khóc lặng lẽ không ra tiếng, vẻ mặt nhăn nhúm khổ sở. Tiếng sụt sịt khóc rấm rứt của hai chị tôi, của mấy người lớn đứng phía sau. Tôi len lén nhìn mẹ tôi rồi sợ hãi ngước nhìn sang mọi người. Có lẽ lúc đó tôi còn nhỏ quá, chưa hình dung ra được thế nào là cái chết nên tôi cứ nép sát vào chị Ngà tôi, sợ sệt nhìn xung quanh chứ không khóc một tiếng. Thậm chí tôi còn tò mò dướn người lên để xem cho rõ khi bà Thượng tôi bỏ một hạt vàng nhỏ vào mồm mẹ tôi. Sau này tôi nghe nói làm như thế để mẹ có chút của nả mang theo khi đi sang thế giới bên kia… Mẹ tôi cứ khóc lặng lẽ như thế rất lâu. Bà Thượng tôi nói gì đó với mẹ tôi cũng rất lâu, như là căn dặn mẹ tôi điều gì. Chắc là những lời nhắn nhủ cuối cùng, những lời giã biệt cuối cùng, có điều gì nghiêm trọng lắm nên tôi thấy mọi người khóc nức lên, mỗi lúc một lớn hơn. Ở gian ngoài, cái Dung con cô tôi chẳng hiểu sao suốt cả tiếng đồng hồ rồi cứ khóc ngằn ngặt. Nó mới hơn hai tuổi, ngồi trên chiếc chõng tre, khóc đến tím tái cả mặt mày, không ai dỗ nổi. Có ai đó bế nó đi ra ngoài sân để cho mẹ tôi ra đi được thanh thản hơn. Tôi bỗng thấy người mẹ tôi dướn lên, một cơn ho dội lên, mặt mẹ lộ vẻ rất đau đớn. Bố tôi cúi xuống vuốt ngực cho mẹ tôi, rồi cứ thế mẹ tôi lịm dần. Tiếng khóc bỗng òa lên nức nở. Mọi người đổ xô vào vây quanh giường mẹ tôi. Hai chị tôi khóc thét lên, lao đến ôm chặt lấy mẹ tôi, lăn lộn. Tôi sợ hãi ngơ ngác nhìn mọi người, nhìn mẹ tôi và cũng òa khóc theo…


Đám tang của mẹ tôi rất đông. Vừa họ hàng, vừa dân làng Thễ, cả trăm người đưa mẹ tôi ra ngoài cánh đồng. Tôi bị ốm, không nhớ ai đó đã cõng tôi đi theo sau quan tài. Tiếng trống chốc chốc lại vang lên tiếng một, điểm nhịp cho tiếng kèn ai oán, buồn bã…


Sau ba năm, bốc mộ, hài cốt mẹ tôi được đưa về chôn ngay lưng chừng đồi, gần nhà ông bà Hai của tôi, nơi anh chị em tôi ở liền mấy năm trong thời kháng chiến. Một người bạn của bố tôi - bác Chiểu - biết xem địa lý, đất cát đã chọn giúp mảnh đất ấy. Đó là một khoảnh đất đẹp, xinh xắn, gần một cái ao và mấy gò đất nhỏ rải rác mọc nhiều sim mua, chè đồng và nổi bật lên là mấy cây sau sau khá lớn, thân trắng mốc, lá xẻ chân vịt, về cuối năm lá vàng rực. Trước đây anh em tôi thường ra đó đánh trận giả, đuổi bắt nhau tối ngày. Từ khi mộ mẹ tôi đặt ở đó, chúng tôi không dám làm ầm ĩ nơi mẹ tôi yên nghỉ, chỉ thỉnh thoảng ra thăm mộ, dọn cỏ cho sạch sẽ, quang đãng nơi mẹ tôi nằm. Và suốt từ những ngày xa xôi ấy, mẹ tôi đã ở lại đó vĩnh viễn…


Mẹ tôi sinh nở tám lần. Ba em sau tôi đều mất sớm, khi mới hai, ba tuổi. Tôi là thứ năm, cuối cùng thành con út. Mẹ tôi khóc rất nhiều trong lúc hấp hối, có lẽ chính vì thương đàn con còn quá nhỏ dại đã mất mẹ, không biết tương lai sẽ thế nào. Tôi là con út, nhỏ bé nhất, ốm yếu nhất trong mấy anh chị em, chắc mẹ tôi càng thương tôi nhiều hơn. Ngày còn sống, một lần bố tôi kể tên tôi là do chính mẹ tôi đặt cho. Thường thì tên các anh chị tôi do bố tôi đặt cho. Riêng tên tôi, mẹ tôi giành đặt lấy. Khi vào nhà hộ sinh thăm mẹ tôi, thấy mẹ tôi đã sinh con trai, bố tôi định đi làm giấy khai sinh thì mẹ tôi cười bảo đã nói bà đỡ làm rồi. Mẹ tôi rất yêu hoa, thích hoa hồng, đặc biệt là hoa quỳ, tức hoa hướng dương. Chắc mẹ mong mỏi con trai mẹ cũng giống như loài hoa ấy, lúc nào cũng hướng về phía mặt trời, hướng về phía ánh sáng, phía ngay thẳng, chính trực, phía của cái đẹp, hướng thiện…


 


Nguồn: Trần Hoài Dương Truyện chọn lọc. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »