Khu rừng mật cật trải dài, có con suối vắt ngang, cạn nước, đầy lá mục, nhưng đáy suối trải đá sỏi rắn chắc. Vinh cho mọi người đi giữa lòng suối để tránh vắt, theo ngược đường nước chảy anh nhắm là hướng Bắc. Trời tối rất mau, pháo sáng giăng tỏa lung linh trên nền trời. Họ đi thật chậm, lặng im, chỉ nghe tiếng bước chân khua nước lỏm bỏm. Khu rừng tối dần, sậm màu lá khô, thỉnh thoảng có những chỗ trống quang, dấu vết của bom pháo. Con suối không lớn không nhỏ, một cở kéo dài. Theo lời chỉ dẫn của người buôn thuốc Tây, có thể con suối đổ ra con sông dọc biên giới. Vinh rất muốn đến được đó. Như là một cái đích nhắm đến, không biết để làm gì. Dù sao con sông cũng là cái gì đó thân thương. Nhưng anh ngờ bọn Mỹ theo đó làm hành lang tiến quân.
Thu Hà đi liền kề. Vinh cảm thấy hơi thở của cô sát phía sau. “Cô ta là diễn viên múa, chân dẻo dai, chắc đi bộ giỏi lắm”, Vinh bắt đầu nghĩ ngợi lung tung. Như hồi ở đơn vị, những đêm hành quân, bắt đầu đi, bước chân đều đều anh thường sa vào những cơn mơ màng như vậy. Những hình ảnh lộn xộn, không đầu đuôi, thường là những xưa cũ hiện ra liên miên. Anh vội lắc đầu như để xua đuổi. Giờ anh không còn là người lính, anh là người chỉ huy. Phải cáng đáng mọi việc, căng mắt nghe ngóng quan sát. Nhưng chỉ được chút thôi, đầu óc trống rổng cơn mơ màng vẫn kéo đến.
Anh nhớ lại chuyện hồi ở dưới quê. Nhà anh nghèo lắm, chỉ là một túp lều xiêu vẹo, một cơn gió lớn là đổ sập. Trước cửa nhà là cánh đồng, xa nữa là chiếc bưng rộng suốt ngày bọn trẻ trầm nghịch, vốc bùn chọi nhau, leo lên lưng trâu rượt đuổi. Cạnh bưng có chiếc bờ đất không biết của ai, đắp lên để làm gì, hàng cây trâm bầu cằn cổi lá đầy sâu, mấy cây ổi “chim ỉa” cành lá xơ xác trái nhỏ lăn tăn, đầy hột, năm này tháng kia không lớn lên cũng không chết đi. Lần nào ra đó bọn trẻ cũng leo lên mấy cây ổi hái trái ăn nhăn mặt phun phì phì. Vinh gắn bó với mấy cây ổi, không hiểu ra sao, nhắm mắt lại là thấy hiện ra. Anh cũng nhớ cây trâm đầu làng, đến mùa trái chín tím thẩm, anh leo hái cởi áo bọc đem về, bọn con gái chạy theo hỏi xin anh chỉ cho một ít. Anh không ghét chúng, nhưng anh thương đám bạn trai của anh hơn. Anh có đám bạn trai “chí cốt”, chia sớt các thứ đồ chơi, chiếc giàn thun con trâu đất. Rồi cải vã đánh nhau, đứa nào cũng đủ thứ tật xấu, nhưng chỉ mấy hôm chơi lại với nhau. Đó là những ngày buồn thảm cơ cực kéo dài, nhưng anh không hề biết, không cảm thấy. Anh vẫn đi rong chơi. Cha bịnh nặng nằm liệt giường anh về ngồi bên một lúc, có thằng bạn kêu réo thế là anh lại chạy đi. Bọn anh bày trò chơi đánh giặc giả, hồi hộp gay cấn không thua những trận đánh thật sau này. Làng bên sông Vàm Cỏ, dân cư sống âm thầm lặng lẽ. Máy bay đầy trời, bom nổ chỗ này chỗ kia, dân làng vẫn cắm cúi làm ruộng, gạt lúa ma, giăng câu đánh lưới, ngày hai bữa cháo rau. Gia sản chỉ có chiếc xuồng cụt mủi, chiếc nóp bàng, chiếc áo tơi lá cần đóp. Ngày Thanh Minh ngày Tết vui hơn một chút. Nhà cửa đường sá quét dọn sạch sẽ, trẻ con bận đồ mới. Vinh đốn một gốc tre lớn làm súng bắn khí đá, tụ tập chơi trò đánh giặc giả nhưng không khi nào đủ bọn cả. Cầu sập, xuồng vô nước, cha mẹ bị bịnh, trâu nhà bị pháo bắn trúng, có đứa này thiếu đứa kia, cuộc vui thường bị ngắt ngang tạm dừng.
Chiến tranh là như thế. Đó là cảm nhận đầu tiên của Vinh về chiến tranh, cái gì cũng đứt đoạn giữa chừng.
Vinh nhớ quá chừng con trâu nhà, nó rất hung dữ, chém lộn không thua con trâu nào. Nhưng với Vinh nó rất hiền, anh cởi nó đi đủng đỉnh về chuồng đút rơm cho nó, nó nhìn anh mắt ươn ướt, thở phì phì nóng hổi vào tay anh. Chính con trâu sau này bọn lính bắn chết, nhét xác người du lích vào đó, cho xe tăng kéo ra giữa dồng. Nhiều ngày trôi, qua xác con trâu trương phình lên, không ai dám ra sợ đám lính rình phục. Suốt tuần cả làng như có một dám tang lớn, lặng thinh lặng ngắt, nỗi đau không thể giải bày cùng ai.
Con chó nhà anh cũng bị tụi lính bắn chết. Đi càn vào tới đầu làng chúng xả súng bắn. “Cho có trớn” chúng nói. Con chó bị trúng nguyên một băng đạn vào bụng, không thể băng bó gì được, nằm thoi thóp nước mắt chảy dài, ba ngày mới chết. Đó là một con chó xấu xí của nhà ai lạc vào, lông xám xịt tai nhọn như tai chuột, mắt ti hí, rất tinh khôn, biết đào hang bắt chuột, bắt rắn, lội ra bưng đuổi chim, lùa vịt về chuồng. Không có chuyện gì làm, nó bày trò vui nhộn như giả chết, chạy ba chân. Vinh rất thương con chó, nhưng nhiều khi cũng không gái nổi. Đang giữa trưa bỗng nghe nó sủa mãi, nhìn chăm chăm vào một con vật vô hình nào đó dưới gốc cây chuối. Anh đi chơi đâu nó cứ đòi đi theo, anh xua đánh nó lủi trốn, nhưng ra tới đầu ngõ thấy nó đứng đợi ở đó, anh bẻ một cành cây lớn vung lên nó quì mọp bò lết lại liếm tay anh. Có một lần anh cùng nó lội qua sông, tới giữa dòng anh giả chết đuối đập tay loạn xạ, lặn núp dưới chùm rể cây. Con chó hoảng hốt lội vòng quanh kêu rên rỉ, leo lên bờ ngồi chồm hổm cất tiếng tru dài như khóc.
Những chuyện không đáng gì như vậy, lan man vô vị, không hiểu sao anh cứ nhớ hoài, mỗi lần nhớ lại thấy đau nhói trong lòng. Dạo năm Thìn bão lụt nước ngập tràn đồng, nhà cửa đường sá cũng ngập, ngoài sông lớn nước chảy cuồn cuộn. Trong đồng nước ngập trắng, ruộng vườn bị ngập lúa chết hết, cây trái thúi ủng. Người lớn kêu trời than vãn, con nít vui mừng thả bè đi giăng câu, đâm chuột, vớt lục bình bắt những con le le mới nở. Vinh đóng một chiếc bè thật lớn ra sông vớt đồ đạc, không có gì đáng giá, mấy trái dừa khô, một con vịt chết, một chiếc rương giống như rương đựng vàng trong các truyện cổ tích, nhưng mở ra chỉ thấy toàn giấy vụn, mớ hột giống đã lên mầm. Nhưng Vinh vui lắm, được bập bềnh trên sông hồi hộp tìm kiếm. Hôm đó như mọi lần Vinh chống bè ra sông, cặp vào một chùm rễ gừa, mắt nhìn gườm gườm như một tên cướp biển. Đồ đạc trôi tới, lục bình rác rến, những cành cây những gốc cây, một chiếc cà-ròn căng phồng, một chiếc rương Vinh cho qua luôn. Một chiếc xuồng trôi tới, trên xuồng có mấy bao bàng căng phồng chắc đựng lúa gạo. Xuồng nhà ai bị đứt dây trôi đây, của trời cho dịp may hiếm có. Vinh tháo dây bè định bơi ra bỗng thấy gần đó có chiếc xuồng đâm ra. Đó là ba Vinh, ông không bỏ lở dịp may này. Rồi lại thấy ông hàng xóm cũng bơi xuồng đâm ra, nhằm vào chiếc xuồng đang trôi tới. Hai chiếc xuồng của ba Vinh và ông hàng xóm cùng ra một lượt. Hai người thường ngày nhậu với nhau, giờ đây lặng lẽ níu lấy chiếc xuồng trôi, giành giựt níu kéo. Hai chiếc dầm vung lên, hai chiếc xuồng quay ngang ngửa rồi lật chìm. Hai người tiếp tục quần nhau trên sóng nước, mệt đuôi sức lặng lẽ leo lên xuồng bơi về nhà.
Đêm hôm đó Vinh chứng kiến cảnh ba Vinh nằm úp mặt khóc trên giường. Bên kia chắc ông hàng xóm cũng khóc như vậy. Vinh thôi đi bè từ đó, tuổi thơ chấm dứt. Năm Thìn đói kém như cột mốc của đời anh, cũng đã tới tuổi biết thế nào là những giọt nước mắt xót xa cay đắng. Cũng chính từ đó anh lớn lên.
Con suối đột ngột biến mất chấm dứt những hồi ức của Vinh. Một con đường xe bò trắng toát nằm vắt ngang, đung đưa dưới ánh pháo sáng. Vinh cho mọi người dừng nghỉ, bàn với mấy anh điện đài nên đi đường nào, đi trên đường xe bò hay tìm đường mòn trong rừng. Tổ điện đài muốn đi đường xe bò để dễ khiêng cáng thương. Ong Ba Quang muốn đi đường mòn. Đoàn người lỉnh kỉnh như vầy đi phơi lưng dưới ánh pháo sáng trên đường rộng thênh thang, chẳng khác nào làm điểm cho pháo bắn.
“Ý bác thế nào?”, Vinh hỏi ông Tư Nghệ.
“Tùy mấy anh thôi”, ông Tư Nghệ đáp. “Vợ chồng tôi không đi tiếp được. Bà ấy bị đau chân, dân chợ đâu quen đi rừng”.
Vinh đứng lặng, cảm thấy bị đòn đánh đầu tiên:
“Không rán được chút nào sao?”.
“Bà ấy nằm bẹp, đòi chết kia kìa!”.
Vinh thấy cần phải cương quyết:
“Được. Hai bác nằm lại nghỉ ngơi rồi đi lần theo sau. Cháu đưa đoàn đi tới chỗ nghỉ, quay lại rước. Mình sẽ đi theo kiểu nhảy cóc. Đó là ngày mai, còn bây giờ nói với bác gái rán đi một đỗi nữa. Đi trên đường xe bò cho dễ”.
Vinh ngạc nhiên về giọng nói của chính mình. Con đường xe bò rộng, thẳng, hai bên cây mọc thưa thớt, tầm nhìn rộng, thật nguy hiểm nếu gặp biệt kích. Mọi người bắt đầu đi, qua những vạt rừng thưa những trảng cỏ, những vạt rừng đang ngún cháy, những thân cây khô bốc lửa như một ngọn đuốc. Nhiều lúc pháo sáng tắt hẳn, tiếng bom pháo vẳng xa, như mặt trận đã lùi về phía sau. Đoàn đi chậm, đợi vợ chồng ông Tư Nghệ và tổ điện đài, hơn hai tiếng đồng hồ chỉ đi chừng bốn năm cây số. Con đường xe bò vẫn thẳng một chiều, nhưng cũng không chắc lắm. Thỉnh thoảng Vinh rẻ vào vệ đường xem vỏ cây một thân cây, bên nào cháy xém nhiều đó là hướng Đông. Anh cố ngăn mình không chuyện vãn, dừng lại nghỉ chân ngồi riêng ra một góc, sợ phải nghe những khó khăn mới. Họ đi thêm hơn tiếng đồng hồ nữa con đường xe bò bỗng đứt ngang. Ông Tư Nghệ giải thích đây là đường chở gỗ của Trần Lệ Xuân, năm 60 nổ ra chiến tranh việc cưa gỗ phải chấm dứt. Vinh sục qua hai bên đường, tìm thấy con đường mòn nhỏ lẩn khuất trong bụi rậm phủ đầy lá khô, hẳn lâu rồi không có người đi. Anh coi đồng hồ: bốn giờ sáng. Anh bước tới chỗ vợ chồng ông Tư Nghệ:
“Bác gái sao rồi?”.
“Bà ấy đi như bò lết, tội nghiệp quá!”.
“Hay ta cùng ở lại, địa thế vùng rừng coi cũng tốt?”, ông Chín Nếp góp ý.
“Ở lại đến bao giờ?”, ông Ba Quang nói. “Mình có thương binh phải đưa gấp tới bịnh viện”.
Vinh giải quyết theo cả hai hướng: vợ chồng ông Tư Nghệ nghỉ lại đây. Anh đưa đoàn đi tiếp một đỗi, sáng ra trở lại rước. Người nghỉ được nghỉ, người đi vẫn đi. Riêng anh phải đi đoạn đường gấp đôi.
Ông Chín Nếp dẫn vợ chồng ông Tư Nghệ vào cụm rừng cách đường chừng trăm thước, cây cối tương đối rậm, bên dưới trống trải, có thể giăng võng ngủ ngay. Vinh chặt cây làm cây mồi, làm giá để ba-lô, căng ni-lông. Ông Chín Nếp gom cành cây khô đốt một đống lửa nhỏ, xoa tay:
“Thôi êm ấm quá rồi! Bắc hăng-gô nước pha trà uống được rồi. Ở rừng nấu nướng thật sướng”.
Cụm rừng nhiều cây tai nghé và cây săng đá, cành lá héo úa như vừa bị một đợt chất đọc hóa học, mặt đất chai cứng, không hứa hẹn có khoai củ gì. Vinh nói, quay nhìn ra ngoài, sợ bắt gặp ánh mắt ông Tư Nghệ:
“Thôi tụi này đi. Hai bác cứ giăng võng ngủ. Sáng mai bác trai đi tìm nước, theo triền dốc, thấy có dây mây mọc nhiều là gần tới suối. Kẹt quá có thể tìm dây kim cang hoặc dây cổ rùa chặt khúc, hứng lấy nước nhựa màu đỏ, uống ngọt như nước củ dền”.
Ong Tư Nghệ nói:
“Bà nhà tôi mới đi rừng còn lóng ngóng, anh thông cảm. Còn tôi kháng chiến cả đời, anh đừng lo. Sáng mai anh trở lại chớ?”.
“Cháu sẽ trở lại. Nhưng bác phải đề phòng trường hợp xấu nhứt”.
Vinh không nói trường hợp nào, bị trung bom, đi lạc, biệt kích đánh cắt, sa vào một trận càn khác. Chắc ông Tư Nghệ phải hiểu.
Không quay lại Vinh đi luôn. Ong Chín Nếp đi theo sau nói lầm bầm điều gì. Pháo sáng gần như tắt hẳn, con đường mòn uốn lượn ngoằn ngoèo, thấp dần xuống, con suối hiện ra nước chảy loang loáng. Vinh dừng lại. Thu Hà đến liền kế bên. Đoàn người phía sau vẫn còn chưa lên tới. Vinh nói:
“Để anh lội qua trước coi sao”.
Vinh trải tấm ni-lông choàng, cởi quần áo đặt vào đó cùng với ba-lô, khẩu súng, đôi dép râu, buộc túm lại bằng sợi dây thun căng che mưa, làm thành một chiếc phao lớn, một tay níu chặt đầu phao tay kia để lên trên đi lần ra mép nước, dò dẩm đi tiếp ra giữa suối. Bỗng có tiếng kêu khẻ. Thu Hà đang lội sát theo sau, cũng bắt chước y như vậy, chỉ có khác để nguyên quần áo trên người. Nước lạnh ngắt, sâu tới ngực rồi tới bụng. Có chỗ sâu quá đầu phải lội bập bềnh. Hai người qua hết con suối, leo lên bờ vẫn không thấy đoàn người phía sau lên tới. Vinh tìm chỗ bụi rậm bận quần áo, giở thuốc ra hút. Thu Hà vẫn ngồi co ro vì lạnh. Vinh gắt:
“Em để nguyên quần áo lội nước, bao nhiêu quần áo cho đủ?”.
Thu Hà rên rỉ, co ro ôm bọc đò đi vào bụi rậm. Vinh rít khói thuốc trong lòng bàn tay, hỏi vọng vào:
“Sao không thấy mọi người lên tới? Em đi sau mà?”.
“Em không biết”, Thu Hà đáp vọng ra. “Em nghe chú Chín đi sát sau em”.
“Em tưởng vậy thôi”, Vinh nói. “Người đi trước phải chú ý tới người đi sau, đứt chỗ nào lỗi người chỗ đó. Thôi để anh…”.
Thu Hà đứng sát bên Vinh, có thể nhìn thấy cơ thể để trần của cô. Đôi vai hẹp, vú thật nhỏ, dáng người thon cao, mờ ảo trong màn sương. Vinh thấy thoáng rung động nhè nhẹ, vẫn ngồi yên, điếu thuốc trong tay. Anh chưa từng nhìn thấy cơ thể để trần của phụ nữ, lại gần sát bên như thế này. Anh đã nhìn thấy một lần, hồi ở quê. Nhìn từ xa, các cô gái tắm ao giữa đồng. Anh nằm ngủ trên bờ đìa, trong rặng trâm bầu, nghe tiếng con gái đùa giởn, thức đậy nhìn ra, giữa trưa nắng một đám con gái trần truồng lặn hụp cười giởn té nước vào nhau, chỉ thấy những bóng trắng nhỏ xíu, trong ánh nắng lung linh. Anh ngồi yên, các cô tắm xong lên bờ bạn quần áo ra về anh vẫn ngồi. Tối về ngủ trong cơn mơ màng anh nhìn thấy lại cảnh đó, thật ra không thấy gì cả, chỉ là một mớ những bóng trắng, những cánh tay giơ cao trong ánh nắng lung linh.
Tiếng Thu Hà:
“Ôi cái gì sáng quá vầy nè, như đom đóm vậy”.
“Nấm lân tinh”, Vinh nói, thở ra nhè nhẹ. “Em lấy một miếng giắt vô ba-lô, lát nữa anh dòm đi cho dễ”.
Đoàn người phía sau lên tới, lao xao bên kia bờ suối. Ong Chín Nếp lội qua trước, ba lô giơ cao trên đầu, run lập cập. Báo cho biết do anh thương binh bị ngất, ông Ba Quang phải dừng lại chăm sóc. Vinh lội trở qua tiếp đưa cáng thương sang. Có nhiều người lội qua, nước suối bớt lạnh hơn.
Tiếng ông Chín Nếp reo lên bên kia suối:
“Ôi cha, nấm lân tinh sáng quá! Hồi xưa mái nhà ông nội tôi có nấm lân tinh, ban đêm nhà sáng lên như nạm ngọc”.
Họ tiếp tục đi. Trời hửng dần lên ở chân trời, một chiếc trảng lớn lộ ra. Bãi đóng quân của tụi Mỹ! Trước mặt là một cảnh huy hoàng với xe tăng, máy bay trực thăng, những dãi lều bạt, những lô cốt bằng bao cát, bồn nước cao su, vô số những đụn đất cao bằng thân người. Đèn pha chiếu sáng cả một vùng rừng, khung cảnh càng thêm lung linh rực rỡ.
Vinh và mọi người vẫn đứng trố mắt, lặng thinh ngỡ ngàng. Tiếng ông Chín Nếp:
“Ôi cha, quá sức thằng Mỹ không? Nó dời nước Mỹ của nó qua đây hay sao vậy?”.
Thu Hà bước tới đứng sát bên Vinh, thở mạnh:
“Như chợ vậy. Nhưng làm sao đi?”.
“Cứ đi thôi”, Vinh nói.
Vinh dẫn đoàn người rẻ sang hướng khác, đi vòng quanh bái đóng quân của tụi Mỹ. Hơn tiếng đồng hồ sau trời sáng, họ tìm cụm rừng dừng lại nghỉ. Suốt ngày hôm đó hình ảnh bãi đóng quân của tụi Mỹ choán chật hết tâm trí Vinh.
***
Đoàn người đi rồi, vợ chồng ông Tư Nghệ lo sửa soạn chỗ ngủ. Tăng che mưa, cọc mồi đã được Vinh và ông Chín Nếp làm dùm xong hết rồi. Giờ chỉ còn dọn sạch, giăng võng, kiếm thêm ít củi dự trữ giữ lửa cho đống lửa. Không có việc gì nhiều họ cứ lục đục mãi. Họ biết sẽ khó ngủ, nhưng sợ phải lên võng nằm. Ông hỏi bà:
“Bà lạnh không?”.
“Không”, bà đáp. Rồi hỏi lại: “Ông làm cái gì hoài vậy?”.
“Tôi đốt cho bà đống lửa, củi lớn như vầy sẽ cháy suốt đêm. Ở rừng có lửa là vui. Bà ngủ đi, quay chân lại đống lửa nè. Người ta lạnh từ chân, mấy năm ở với người dân tộc thiểu số tôi học được điều đó. Hay bà đưa chân đây cho tôi”.
“Ông làm cái gì?”.
“Tôi bóp chân cho bà”.
“Ôi trời đất ơi, ông kỳ quá đi. Thôi tôi ngủ đây”.
“Bà ngủ đi. Ráng ngủ, sáng ra sẽ khỏe thôi. Không có gì phải lo. Không gấp gáp gì, sáng thức dậy ăn uống xong ta thong thả lên đường, đi chậm thôi, mệt thì nghỉ. Mình tai qua nạ khỏi như vầy là may mắn lắm rồi. Bà ngủ đi!”.
“Ông nói hoài tôi không ngủ được?”.
“Tôi nói thêm chút nữa thôi, tôi có tật nói láp giáp lâu rồi. Gạo nước ta có đủ, thuốc men lương khô cũng có, ở rừng chưa ai bị chết đói cả”.
“Đây là rừng của ông, không phải của tôi”.
“Thì cũng vậy thôi, giờ mình sống chết với nhau”.
“Đừng nói chuyện chết chóc tôi sợ lắm. Nói chuyện khác đi”.
“Ừ nói chuyện gì khác đi”.
Nhưng nói chuyện gì? Ông Tư buồn đến não lòng. Ông cưới bà lúc bà mười sáu tuổi, đến nay đã gần năm mươi năm, ông sống với bà được bao nhiêu ngày? Hôm sau ngày cưới ông đã ra đi, từ đó tới giờ đôi ba năm ông gặp bà một lần, lén lút vụng trộm, nơm nớp lo sợ biệt kích, giặc càn. Và trong đôi ba ngày gặp nhau, nửa thời gian ông dành để diễn thuyết, quen thói rồi. Ông giảng cho bà nghe về địch ta, cách mạng trong nước và thế giới, ai thắng ai, đâu có thời giờ nói chuyện với bà, hỏi thăm chuyện nhà cửa con cái, thật tình những chuyện đó ông không biết và cũng không muốn biết. Ở ông, cái chung trừu tượng át mất cái riêng cụ thể. Nhưng bà không than phiền gì, bà tin ông nghe theo ông. Suốt mấy ngày ông nói theo thao, rồi ông đi, ba năm sau gặp lại giữa đồng, trong một chòi giữ dưa, bà ngồi trên đống rơm ông đi vòng quanh giải thích cho bà biết rằng cách mạng rồi sẽ thành công, mọi người sẽ được ấm no hạnh phúc. Bà nghe ông với niềm tin vô biên, cố ghi nhớ từng câu từng chữ để về kể lại với đám con và bà con chòm xóm. Bao nhiêu năm với những lần gặp gỡ như vậy, bà không hề buồn chán thắc mắc, nghe tin ông nhắn bà tất tả ra đi, vượt qua bao nhiêu đồn bót, ấp chiến lược, những trận càn, những lần bị giặc bắt tra khảo đánh đập, không một lần bà nãn chí, vẫn đến với ông để nghe ông nói, bà ngồi nghe.
Lần này chắc cũng như vậy. Chỉ có điều bà già quá rồi, sức nghe đã giảm, ông cũng không còn sức đâu hùng hồn.
Bà Tư nói:
“Mình nằm lại như vầy là phải ông à, tôi không đi thêm được bao nhiêu nữa đâu. Tôi đi đâu làm gì?”.
“Bà nói gì vậy?”.
“Tôi nói ông đi kháng chiến cả đời, công trạng cũng vừa đủ. Tôi nuôi con cái cũng lớn khôn, xong việc tôi rồi”.
“Bà làm như mình chỉ còn sống đêm nay thôi vậy”.
“Tôi không nói chuyện sống chết, tôi nói mình cần nói chuyện với nhau”.
“Vậy bà nói đi. Giờ đây tôi nghe bà nói, kể bao nhiêu năm bà nuôi con như thế nào”.
Bà biết kể chuyện gì? Chuyện nhà cửa con cái, có đáng kể không? Nhưng không thể hình dung những năm đầu ông Tư ra đi, một mình bà thành người vợ, người mẹ, với bao lo toan chồng chất. Nhà không có ruộng vườn, bà con họ hàng tứ tán, bà gởi con hàng xóm bương ra đường tìm việc làm. Nhưng việc làm ở đâu ngoài đường? Đang đi thấy một quán khách khứa ra vào tấp nập, bà đi thẳng vào, ra sau bếp tgự dọn chén dĩa dơ đi rửa. Người trong nhà thấy bà tự nhiên quá cũng không nói gì, chỉ cười đùa, bà cũng kệ người ta coi mình như người điên khùng. Ngày hôm sau rồi nhiều ngày sau nữa bà cũng làm như vậy. Cho đến một hôm chủ quán kêu bà lại nói: “Cô sao vậy? Bị chồng bỏ, hay bỏ chồng? Hay có chuyện gì khác?”. Bà không đáp. Chủ quán nói tiếp: “Thôi đó là chuyện riêng của cô. Nhưng cô có con chớ? Cô làm không công như vầy con cái ai nuôi? Cô muốn tôi mang tiếng ác với con cô hay sao?”.
Chuyện là như vậy. Bà kể cho ông nghe, cho vui thôi. Rồi nói:
“Ông không biết hồi đó tôi cực như thế nào đâu”.
“Thì tôi cũng cực”, ông chống chế. “Tôi đeo chiếc nóp con dao rựa, người ta chỉ vô một cụm rừng nói: “Vô đó xây cứ đi”. Tôi bắt đầu làm cách mạng như vậy đó”.
“Ông còn có đồng đội, tôi chỉ có một mình”, bà nói.
Điều đó thì đúng, ông nghĩ nhưng không nói ra.
Khu rừng sáng dần, bớt u ám quạnh hiu. Có mấy cây dâu trái chín vàng, ông lụm cụm leo bẻ một chùm đem cho bà. Bà ăn khen ngon, nói ngọt không thua dâu vườn nhà. Ông ngồi coi bà ăn dâu. Rồi lập cập đứng dậy xách hăng-gô đi tìm nước, dặn bà ngồi yên trên võng, đừng đi đâu, nghe tiếng động hoặc ai kêu hỏi cũng đừng lên tiếng. Ông đi vòng theo hình trôn ốc để khỏi lạc, theo chiều nghiêng của mặt rừng, dò tìm dấu rãnh nước chảy. Cuối cùng ông gặp được con lạch còn ít nước, có vẻ là ngọn nguồn của một con suối nào đó. Ông múc nước đem về nhóm lửa, bắc hăng-gô lên, đi múc nước nữa, trở lại con lạch thấy một con kỳ đà lớn nghểnh cổ nhìn ông. Ông thốt run lên, không phải sợ, mà nghĩ tới món lương khô có được từ thịt kỳ đà. Ông ngó quanh quất tìm được khúc cây, cầm chắc trong tay từ từ tiến đến. Con kỳ đà không bỏ chạy, không có động tác phản ứng gì, chỉ nghểnh cổ nhìn theo tay ông. Ông lấy hết sức giáng xuống đỉnh đầu nó. Con kỳ đà gục xuống. Ôg giáng tiếp mấy cái nữa, cho đến khi nó chết hẳn. Ông xách con kỳ đà lên, thấy nó gần như bị mù cả hai mắt. Ông thấy chạnh lòng, hơi chút sượng sùng, nhưng cũng xách con kỳ đem về.
“Con gì vậy?”, bà Tư hỏi.
“Con kỳ đà”, ông đáp. “Thịt ngon lắm, như thịt gà. Để tôi nấu cho bà ăn, bà sẽ hết đau chân”.
“Ôi con gì kỳ quá, tôi không ăn đâu”, bà la lên.
“Không ăn nhiều cũng ăn ít”, ông nghiêm khắc. “Đây là chất đạm. Ở rừng không ráng ăn thì chết”.
Bà Tư sực nhớ ra:
“Năm nào má con tôi cũng bị đói một trận”.
“Năm nào?”, ông hoảng hốt. “Ở dưới quê cũng bị đói hả?”.
“Ở dưới đó không có giặc hay sao?”, bà nói. “Ruộng vườn có đó, nhưng bom đạn quanh năm làm sao làm? Rồi hạn hán lúa chết, cá tôm dưới sông cũng chết, mấy đứa nhỏ ngã bịnh, tôi không đi làm được. Tôi chôn có ít vàng sau vườn, nhưng đào lên không thấy đâu, không biết tôi nhớ lộn hay ai lấy mất”.
“Rồi làm sao?”.
“Đâu nhớ làm sao, chuyện lâu quá rồi. Nhưng phải chi lúc đó ông ghé qua với tôi một chút”.
“Tôi ghé làm sao? Lúc đó tụi Tây đang mở cuộc càn lớn, xe tăng đầy đồng, tụi này chỉ còn cách nằm ép mình trong cụm rừng tràm không dám nấu cơm, nhai gạo rang uống nước phèn chịu trận”.
“Rồi ông làm sao?”.
“Cũng đâu biết làm sao, chuyện lâu quá rồi”.
Có tiếng động, Vinh hiện ra mặt mày bơ phờ, nói đoàn người đã dừng lại nghỉ, anh trở lại rước hai ông bà.
***
Con suối lớn nước chảy ầm ào tung bọt trắng xóa, chảy tràn qua những tảng đá nằm lổn ngổn dọc theo lòng suối, nhiều tảng lớn láng bóng phủ rêu đen trủi như lưng trâu. Cụm rừng có nhiều cây cao già cỗi gốc xù xì, mãnh rừng còn sót lại của một dảy rừng già nào đó. Không thấy có dấu chân người, dấu bom pháo, như chiến tranh chưa hề qua đây. Mặt rừng thật sạch, trải cát vàng mịn màng. Một hàng những cây thân mềm mọc theo bờ suối trỗ lá xanh mơn mởn. Thu Hà vừa đặt ba lô xuống chạy tới bứt một nắm nhai thử, nhăn mặt phun lèo phèo, nói chua lòm, chỉ có thể nấu canh. Rải rác có những cây bằng lăng thân lớn cở người ôm,da dẻ óng ả, lốm đốm những họa tiết xanh xám dịu mắt. Tiếp nối là vạt rừng mọc toàn cây lồ ô thân thẳng thớm, vàng ánh, nắng đổ những chiếc bóng xiêng đan chéo nhiều màu sắc đậm lợt như tranh vẽ.
Mọi người sửa soạn chỗ giăng võng, làm bếp, kiếm củi, bàn cách “khai thác” con suối. Vinh mặc ông Ba Quang lo nấu nướng, ra bờ suối ngồi hút thuốc nhìn nước chảy. Anh thấy mệt mỏi, đầu óc nặng trịch. Họ đã đi được ba ngày, kể từ lúc gặp bãi đóng quân của tụi Mỹ. Bà Tư Nghệ quen dần với việc đi bộ, không thấy kêu rên nữa, công lao của ông Tư nhẫn nại khuyên bảo. Thu Hà với đôi chân của người diễn viên múa, đi bộ một cách dẻo dai bền bĩ khác thường. Tổ điện đài vẫn đi miệt mài, người thương binh như một nỗi ân hận đè nặng lên lương tâm họ. Ông Ba Quang ho khúc khắc luôn, người xanh lả, bịnh mãn tính có từ trước. Ông Chín Nếp đi bằng chân và cả bằng miệng, lạc quan vui vẻ, con đường dài ra các câu chuyện của ông cũng lan man không dứt. Họ không gặp ai trên đường, bom pháo cũng không. Nhưng tiếng bom pháo ầm ì vẫn đều khắp, như đang trong vòng vây của một trận chiến sắp nổ ra.
Khu rừng thật yên tĩnh, không khí trong và nhẹ, chỉ cần một tiếng động nhỏ cũng vỡ tan ra.
“Ôi con suối đẹp quá, mình bắt cá đi anh!”, Thu Hà đứng sau lưng Vinh, kiểng chân trên một cục đá, dáng người càng thêm thon cao.
“Em biết bắt cá không?”, Vinh nói. “Bắt cá dưới suối nước chảy, bằng tay không…Ủa, em đeo bông hồi nào vậy?”.
Thu Hà ngồi xuống cầm lấy hai trái tai, mỉm cười ngượng nghịu:
“Bác Tư gái cho em. Đồ giả anh à, nhưng cũng đẹp quá hả? Bác soạn đồ đạc thấy có đôi bông tai, chắc của hai cô sinh đôi bỏ quên. Em có xỏ lổ tai nhưng chưa đeo bông hồi nào, tập múa không được đeo bông, không được để gì chiếu sáng ngoài bản thân mình. Ôi em buồn quá! Sao mấy bữa rày anh quạu vậy, chỉ huy mệt phải không? Ông bác sĩ quạu hết cở, chỉ có chú Chín Nếp là vui. Đi đường cực khổ ai cũng khó đăm đăm em không chịu được. Em muốn mọi người đều vui vẻ thương yêu nhau. Em kể anh nghe chuyện này. Một đêm sau buổi diễn em ra về, có một toán bộ đội chờ em bên ngoài. Các anh muốn tặng quà cho em, nói em đẹp quá múa hay quá. Các anh đứng sắp thành hàng, cầm trên tay những món quà chẳng dáng giá gì: chiếc đèn dầu bằng chai an-côn, bộ dây dù, chiếc xỏ quai dép… Một anh còn trẻ tặng em tấm vải dù pháo sáng trắng tinh, nói hành quân gấp không biết còn gặp lại em không. Gặp em làm chi? Năm sau đoàn em lại đến diễn ở đơn vị đó, em gặp lại toán bộ đội, nhưng anh chiến sĩ trẻ không còn nữa…”.
“Thôi mình bắt cá đi”.
“Anh đợi em một chút”.
Thu Hà ôm túi đồ chạy đi, chút sau trở lại với chiếc túi vải may khéo viềng đăng ten thêu kim tuyến lấp lánh, bày ra trên phiến đá các món quà tặng, đồ trang điểm, khăn tay, khăm trùm đầu, kẹp tóc, dây chuyền, đủ thứ vật dụng nhỏ xíu lúc lắc lủng lẳng, không hiểu thứ gì để làm gì. Cô gái thích sưu tầm những đồ vật xinh xẻo, rảnh rỗi bày ra ngắm nghía.
Hai người theo triền dốc đi xuống suối. Con suối có những chỗ rộng phình ra, nước chảy chậm, những vụng ăn sâu vào trong bờ, nước gần như tĩnh lặng, trong vắt có thể nhìn thấy đáy. Cá nhiều vô số kể, vải ánh bạc lội thành từng đàn tung tăng ngược xuôi. Thù Hà vén cao ống quần, đi sát mép nước rình bắt những con cá lội men bờ. Vinh lội giữa dòng quẩy đạp đùng đùng, lặn mò vào tận các hang hốc, bắt cá xỏ xâu vào nhánh cây ngậm ở miệng. Thu Hà không bắt được con cá nào, lên rừng lục sục làm gì trong bụi rậm. Vinh lên bờ ngồi nghỉ, lượm đá cục ném nhưng con cá nằm sát bờ. Hồi nhỏ ở quê ngoài tài bắn giàn thun, Vinh còn có tài chọi đá, chim đậu tuốt trên ngọn cao năm bảy thước anh chọi “bá phát bá trung”. Anh đang say mê mải trò chơi mới, chợt nghe tiếng kêu:
“Anh Vinh coi em nè!”.
Thu Hà đứng thẳng người trên một phiến đá giữa suối, bận bộ đồ áo liền quần đen tuyền lấp lánh, giống đồ tắm Vinh thấy trong các tờ tạp chí. Cô gái nhoẻn miệng cười ngượng nghịu, làm mấy động tác múa rồi chạy ào xuống lội ra giữa lòng suối, ngồi lên một phiến đá, đưa tay ngoắc Vinh:
“Đây là đồ múa của em! Em nhớ nó quá, lâu rồi không có dịp nào bận. Thôi đừng bắt cá nữa anh, mình nói chuyện chơi đi”.
Phiến đá lớn, nhẳn thín dưới dòng nước chảy. Thu Hà ngồi thòng chân khỏa nước, những giọt nước lấp lánh đọng trên đùi, trên hai cánh tay trắng ngần. Một làn bụi nước phủ mờ chung quanh.
“Em buồn lắm”, Thu Hà nói tiếp, gần như thì thầm. “Phải chi được yên được như vầy hoài… Tại sao đám cá cứ lội ngược dòng hả anh?”.
“Chúng đi tìm chỗ đẻ”.
“Cá nhỏ xíu cũng đẻ hả?”.
“Con gì không sanh đẻ. Nghe nói ở Trường Sơn có cá đẻ trên ngọn cây cao”.
“Làm sao nó lên được trên đó?”.
“Không biết. Chắc do đám chim bắt cá tha về làm mồi cho chim con. Hoặc do trứng cá theo bụi bay đi. Mùa mưa nước ngập đầy trong bọng cây, trên mấy ổ rồng, nhiều người leo cây thấy cá lội lăn tăn trong đó”.
“Thương mấy con chim quá! Cũng thương mấy con cá nữa! Hôm rồi anh về quê cưới vợ hả?”.
“Vợ con gì đâu”.
“Anh đang đi bộ đội, cưới vợ làm sao? Mà con trai như anh đã lớn gì đâu?”.
Thu Hà như quên mất trận càn, không nhớ mình đang ở đâu. Cô thòng chân khỏa nước, như muốn ngồi lại mãi. Vinh cũng không gấp gì. Họ còn cả ngày ở đây, không có việc gì làm. Thật thoải mái ngồi nói chuyện tầm phào giữa khung cảnh yên tĩnh, không phải lo nghĩ gì. Thu Hà bắt qua kể chuyện tuổi ấu thơ của cô, về các buổi diễn tập trong đoàn văn công. Vinh cũng đang lơ mơ nhớ về chuyện ngày xưa của mình, chưa biết đích xác chuyện gì. Chợt nghe tiếng ong ong như tiếng ong bay. Máy bay! Vinh kêu lên lôi Thu Hà chạy ào qua con suối, vừa lên tới bờ hai chiếc khu trục loại Xka-rai-đơ xuất hiện trên đầu, đảo vòng hẹp chuẩn bị lao xuống. Vậy là máy bay trinh sát đã ném trái khói màu chỉ điểm, hai người mải nói chuyện không nghe thấy. Dọc theo suối có nhiều đá tảng chồng chất tạo thành nhiều hang hốc rất vững chắc. Vinh xô Thu Hà vào trong một hốc lớn, ngồi chắn bên ngoài. Chiếc máy bay đầu tiên cắm xuống trút bom, nhìn thấy rõ hai trái bom sà xuống tỏa bóng đen xì, hai tiếng nổ vang trời, đất đá văng rào rào. Một đợt bom nữa rồi một đợt bom nữa, tiếng nổ nghe gần lắm, nhưng thật khó xác định chỗ nào. Thu Hà ngồi im thin thít, Vinh thò tay vào đụng hai ông chân run bắn của cô. Bỗng tất cả im bặt, nghe rõ tiếng nước chảy, mùi khói bom, lá cây bị cháy xém. Một con chim bỗng cất tiếng hót lảnh lót.
Vinh lôi Thu Hà ra khỏi hốc đá. Cô vẫn còn run, mặt tái mét, nói không ra hơi:
“Bom nổ gần không anh? Ôi sao mình trúng bom hoài vầy nè? Mình chết hết thôi!”.
“Làm sao mà chết?”, Vinh gắt. “Thôi đi về đi!”.
Linh cảm có chuyện không may, bom nổ gần quá, nhiều quá! Vinh lôi Thu Hà chạy đi băng qua đám cây cối ngã đổ, mặt đất vẫn còn rung giật từng cơn, một thân cây bỗng đổ ào xuống. Thu Hà chạy bám theo Vinh, sa vào đám cành lá, bươi quào thở hổn hển. Gần nửa tiếng đồng hồ họ về tới chỗ đóng quân, quang cảnh hiện ra lòng họ tan nát.
Bom trúng ngay chỗ đóng quân, cây cối ngã đổ, mọi người mình mẩy lấm lem, như từ dưới đất chun lên. Thật trớ trêu, như trò đùa, Thu Hà đang bận bộ đồ múa diêm dúa. Vinh bận quần cụt, gói quần áo treo tòn teng ở cổ.
Vinh đứng lặng thinh, tránh cái nhìn của ông Ba Quang. Thu Hà nép sau một bụi cây. Im lặng một lúc lâu rồi ông Chin Nếp kéo anh ra một góc kể mọi chuyện. Tai họa lại nhầm vào tổ điện đài, và nhầm ngay anh thương binh. Anh bị trúng bom đợt đầu tiên, một miểng nhỏ xuyên qua tim, chết ngay khi còn nằm trên võng. Giờ anh vẫn còn nằm đó, như đang ngủ. Thay vào đó một anh điện đài khác bị thương.
Tốp máy bay hình như chỉ ném bom vu vơ, nhằm bờ suối nơi bộ đội thường đóng quân. Họ vừa mới tới nơi đâu có dấu hiệu gì.
Thu Hà bật khóc.
Ông Ba Quang băng bó chích thuốc cho người bị thương, đứng dậy lau tay nói:
“Vết thương nhẹ thôi nhưng cũng phải khiêng. Cô kia nín đi không? Cô khóc ai vậy?”.
“Ta chôn cất anh ấy đi”, ông Chín Nếp nói. “Chặt cây đẻo làm giá, chôn dưới lổ bom để huyệt thêm sâu. Ai cắt đùm tôi ít cỏ. Ở quê tôi tẩn liệm người chết bằng rơm bó, đây ta thay bằng cỏ, cho anh ấy được êm ấm. Ai đào huyệt với tôi?”.
Một vệt nắng dọi sáng lên gương mặt người tử sĩ. Anh trạc ba mươi, người tầm thước, bận quân phục màu xám nhuộm pin đèn, nước da trắng chuyển sang tái xanh. Thuở nhỏ ở quê trước khi đi bộ đội anh có thú nuôi gà đá, nuôi chơi thôi, không đá độ với ai. Anh khâm phục dáng đi kiêu hãnh của giống gà đá, say mê để hết tâm trí vàoviệc nuôi gà, chọn giống, tìm hiểu tính nết gà mẹ gà cha, tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn uống, dự không sót trận đá gà nào, thường là của những người mượn gà của anh. Hôm đi tòng quân anh đem theo con gà đá đẹp nhứt, bồng nó trên tay đi suốt từ đồng bằng lên tới rừng, tiếp tục nuôi ở trại luyện quân một thời gian. Sau về đơn vị không còn thì giờ nữa, tự bản thân anh cũng thấy không thích hợp, anh gởi nó ra một xóm dân, có dịp rảnh rỗi đi công tác lẻ anh ghé thăm, chỉ dẫn người nuôi cách chăm sóc chế độ ăn uống, tỉa lông vuốt cựa. Sau này chuyển qua công tác điện đài, có dịp ở tĩnh tại, anh lại nuôi gà, lén lút làm chuồng ở ngoài rừng, ngày vài lần ra thăm cho ăn uống, nói chuyện rì rầm, nhận xét đánh giá với những thuật ngữ chỉ có anh mới hiểu được.
Bây giờ anh nằm đó, một miểng bom nhỏ chấm dứt tất cả, cuộc đời chiến đấu cùng thú nuôi gà, trò chơi vô vị và cũng vô hại.
Ông Chín Nếp hô:
“Ta đào huyệt đi, anh em!”.
Họ chặt những khúc cây xăng đá, thân cứng cở sải tay, vạt bẹt một đầu làm giá, đào một lúc xơ đầu thay cây khác, đào hối hả, đất toàn sỏi đá, thay nhau múc nước đổ vào, lổ huyệt thật sâu họ vẫn đào. Tiếng ông Chín Nếp rì rầm kể lể:
“Trong đời tôi chôn người chết không biết bao nhiêu lần, chôn người hàng xóm tới chôn đám con tôi. Chúng chết vì bịnh, vì đói, vì bom rơi đạn lạc. Hoặc không vì gì cả, cứ lăn đùng ra chết. Con người ta chết dễ lắm. Tôi có mười một đứa con chưa nuôi lớn khôn đã chết một nửa. Cho tới đợt dịch trái giống năm Mão chết luôn hết không còn đứa nào. Giặc giả chưa đủ, trời còn đem bịnh tới. Bịnh của trời lại hại người. Bó chiếu chôn đứa này xong, đứa kia ngã ra, mùa nước ngập linh láng, trời lạnh như cắt da phải dìm con xuống nước mà chôn. Có phải do tội lỗi của vợ chồng tôi không? Hay là không phải?”.
Người tử sĩ nằm nhắm mắt như ngủ, quần áo vẫn còn thẳng thớm, tóc vuốt thẳng ra sau. Bà Tư Nghệ thấm khăn ướt lau mặt mày tay chân anh, nói lầm rầm như ca như hát. Ong Chín Nếp kể sang chuyện nạn dịch châu chấu, không biết ở đâu. Huyệt đào xong, các góc cạnh thẳng thớm, những nắm cỏ chuyền xuống xếp dày dưới đáy, mọi người cùng ráp lại tháo võng từ từ đưa anh tử sĩ xuống. Ông Chín Nếp cất cao giọng: “Nhẹ tay, nhẹ tay… Người chết là hết, người sống còn gian khổ trăm bề… Anh sống khôn thác thiêng, phù hộ anh em…”. Người tử sĩ nằm ngay ngắn, hai tay chắp trước ngực, nhắm mắt như ngủ. Xong xuôi hết rồi, lấp đất lại thôi. Mọi người cào đất xuống, từng chút một, thật nhẹ nhàng. Những thỏi đất mới tinh được trái bom quăng lên, còn đỏ au, dần dần tuôn xuống lấp đầy lổ huyệt.
“Có cần đắp thành gò mả, ghi tên họ gì không?”, một người hỏi.
“Thôi khỏi cần”, một người khác đáp. “Anh ấy trở về với rừng, với đất thôi”.
Huyệt được lắp bằng, phủ lá khô lên trên, không để lại dấu vết gì.
Họ quyết định đi ngay, dù đang giữa trưa. Cần phải thoát mau khỏi cụm rừng đầy ám ảnh buồn thảm. Họ đi lầm lủi, được một đoạn sa vào một khu rừng cháy đầy những tro than, mặt đất nóng như đổ lửa. Một trái bom cay còn rỉ hơi cay khiến họ ràn rụa nước mắt, đi gần như chạy. Xế chiều trời mát dần, khu rừng thưa mọc toàn sim nở bông tím ngát, trời không gợn một chút mây, mặt rừng phẳng họ đi thảnh thơi, tìm khu rừng rậm để nghỉ. Đó là một vạt rừng buông, lá lớn che kín cả một vùng đất dưới tắng là quanh ănm không gặp ánh nắng mặt trời, mặt đất sủng nước nhớp nhúa, nhung nhúc vắt. Trời tối rất mau.
Nấu nướng ăn uống xong Vinh lên võng nằm ngay, tuy biết rất khó ngủ. Lát sau nghe tiếng gọi:
“Anh Vinh chưa ngủ hả?”, tiếng ông Ba Quang.
“Tôi ngủ rồi”, Vinh đáp.
“Cho tôi mượn hộp quẹt”.
“Hộp quẹt ông đâu?”.
“Không cháy, chắc bị ướt”.
Vinh trở dậy lấy hộp quẹt đưa cho ông Ba Quang. Ông ta bật quẹt đốt thuốc, đưa trả, rít thuốc, rồi lót dép ngồi xuống dưới võng Vinh. Bên kia Thu Hà lặng yên, Vinh biết cô cũng chưa ngủ. Bom B52 nổ từng tràng dài xa xa. Vinh trở dậy hút thuốc, quay lưng lại với ông Ba Quang. Khói thuốc đọng một vùng trắng trên đầu hai người.
“Vậy là ta mất thêm một người nữa”, ông Ba Quang bắt đầu. Vinh không nhìn thấy mặt ông ta trong bóng tối.
“Tôi đâu biết gì”, Vinh nói. Anh không biết ông Ba Quang định hướng câu chuyện về đâu.
“Phải, đâu ai biết gì”, ông Ba Quang nói tiếp, giọng âm thầm. “Nhưng thằng Mỹ thì biết, như nó theo sát mình từng bước vậy. Mấy giờ rồi?”.
“Khuya lắm rồi, ông đi ngủ đi”.
“Nói chuyện chút đã, cho xong đi. Chuyện gì cũng phải xong trong ngày”.
“Chuyện gì?”.
“Chuyện trận bom hồi sáng”.
Vinh thấy giận ứ lên ở cổ:
“Ông làm như tôi kêu máy bay tới vậy”.
“Đâu phải lỗi tại ai. Nhưng anh em mình chết. Giá lúc đó anh có mặt tại chỗ, anh là người chỉ huy. Anh đi bắt cá hả?”.
Có tiếng Thu Hà trở mình nhè nhẹ. Bỗng nhiên Vinh có ý nghĩ muốn bỏ tất cả, chỉ cần mấy bước biến mất vào rừng, không còn ai biết anh là ai, muốn đi đâu làm gì cũng được, chẳng còn dính líu gì tới đoàn người này chuyến vượt rừng này.
Nhưng Vinh vẫn ngồi yên. Ông Ba Quang nói tiếp:
“Đáng lẻ anh phải có mặt tại chỗ”, ông lặp lại. “Anh là người chỉ huy, phải có trách nhiệm, trong lúc khó khăn, có người chết người bị thương”.
“Tôi đâu muốn làm người chỉ huy?”.
“Nhưng anh đã nhận lời, đúng không? Người chỉ huy nào cũng có lời thề trên nhiệm vụ của mình”.
“Nếu bây giờ tôi không nhận nữa thì sao?”.
“Đâu có sao. Anh không đi với tụi này nữa cũng được. Nhưng dù sao cũng đi với nhau một đoạn đường, đã có người chết người bị thương. Anh muốn đi riêng hả?”.
“Tôi nói vậy thôi”.
“Đó thấy không, anh cũng không tính được. Chẳng làm được chuyện gì khi bụng mình không yên. Tại sao từ bịnh viện về đơn vị, anh lại tính rẻ về nhà?”.
“Ông không biết chuyện quan trọng như thế nào đâu”.
“Kể thử coi”.
“Bọn lính đánh ba tôi bằng cây mía, vừa đánh vừa xước ăn. Ba tôi ói ra từng bụm máu, nằm liệt giường ỉa đái một chỗ. Tôi đi du kích về thăm, ba tôi nói: Con có súng bắn ba một phát đi. Ba đau quá không chịu nổi”.
“Nhà không còn anh em gì sao?”.
“Hai anh tôi đi du kích bị bắn chết mấy năm trước, chúng cột xác sau xe giép chạy về chợ tỉnh, xác chỉ còn mấy khúc xương lủng lẳng”.
Thu Hà lại trở mình nhè nhẹ. Ông Ba Quang không hỏi gì nữa, nhưng Vinh có nhu cầu muốn kể tiếp:
“Hai anh tôi chết rồi, nhà chỉ còn mình tôi. Tôi mặc sức rong chơi, chạy theo mấy anh du kích xin bắn mấy phát súng, nổ khí đá chọc bọn lính trong đồn. Bọn lính tức giận sáng hôm sau vào làng đem ba tôi ra tra hỏi, hầm bí mật đâu, du kích đâu. Ba tôi là dân thường không biết gì, chúng lại đánh, như cố tình tìm người không biết để tra hỏi vậy. Ba tôi không còn máu để ói nữa. Nhưng con người ta sống khổ, chết cũng không dễ. Ba tôi vẫn sống lay lắt, chuyện nhà một tay má tôi lo. Không còn gì ăn má tôi lục lọi sau vườn, đào xới mấy vồng khoai lượm những củ lớn bằng ngón tay, sục bùn ngoài bưng vớt những con tép mòng lẫn rác rến, quanh năm ăn rau là chính, không biết gì tới thịt cá. Người trong xóm cũng đều như vậy, không nương tựa được vào ai. Làng tôi là một làng nghèo bẩm sinh, đất đai cằn cổi dân cư thưa thớt, nước sông khi mặn chát khi chua lòm. Lại sanh giặc giả liên miên, từ thuở nào đã có giặc rồi, bom đạn không lúc nào ngớt, đám lính đồn không cần đi thu thuế ruộng, bắn vài phát pháo báo hiệu, dân làng gom tiền đi nộp cho chúng. Một lần tôi được sai mang tiền đi nộp cho đám linh đồn. Lần đầu tiên tôi thấy đồn lính, ngạc nhiên thấy các gian trại xập xệ thấp lè tè, đám vợ con lính nheo nhóc. Một tên lính ngồi xổm trên thềm nhà cầm cục cơm nhai nhồm nhoàm. Chính tên lính đó sau này càn vào nhà tôi, đốn mía xước ăn đánh ba tôi, ông chết giấc chúng bỏ đi bắt gà nấu cháo ăn. Ba tôi chết đi rồi tỉnh dậy. Cảnh nhà sa sút đến nỗi một lần ghé nhà tôi thấy má tôi vớt rong dưới sông lên nấu ăn. Tôi không thể ăn rong, bỏ đi, bao nhiêu năm đi lang thang không biết gì đến nhà cửa. Tôi đi du kích rồi đi bộ đội, lên rừng xa nhà bỗng nhớ lại tất cả những chuyện đó. Tôi muốn về nhà gặp ba tôi, như nhiều dân làng bình thường khác, chính là những người như ba tôi chịu đựng nhiều nhứt, mọi đau khổ của cuộc chiến tranh dồn lên họ…”.
Thu Hà lại cựa mình khiếnVinh ngưng câu chuyện giữa chừng. Sao trời nhạt dần. Ông Ba Quang đứng dậy vươn vai nói, giọng đã dịu đi:
“Trời sắp sáng rồi, ngủ chút đi”.
“Còn ngủ gì nữa”, Vinh coi đồng hồ nói. “Ta đi thôi”.
(còn tiếp)
Nguồn: Con đường xuyên rừng. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. NXB Văn học, 2012.
www.trieuxuan.info |