tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
21.11.2015
Nguyễn Xuân Khánh
Trư cuồng

Một bàn tay hộ pháp chợt nắm lấy tay tôi và vặn ngoéo ra sau lưng. Tiếng Tí giò cười khinh khích:


        - Đừng có đùa! Ông định nhổ nó đi sao? Nhổ nó ư? Hết pháp trường, ta sẽ đi đâu?


        - Bác Tí giò đấy ư? Bác là hồn ma lang thang. Bác thèm sự nghỉ ngơi. Vậy thì hãy đến một khu rừng yên tĩnh . Nước ta thiếu gì những vạt rừng đẹp đẽ, ở đó là sự bằng an…


        - Không! Nơi ta ở chính là miếng đất mầu đỏ và chiếc cọc đen sì này. Đi khỏi nơi đây, Tí giò sẽ chẳng còn là Tí giò nữa.


        Tôi điên lên tức giận:


        - Sao mà ngu muội! Hãy nhổ chiếc cọc tang tóc này đi.


        Tôi vật lộn, định thoát khỏi bàn tay hộ pháp, nhưng Tí giò đã kéo lưng tôi áp sát vào chiếc cột, và quặt hai cánh tay tôi ra phía sau. Hắn cười hềnh hệch:


        - Này! Thử nếm mùi chiếc lạt tre của tớ xem sao. Đã lâu tớ chẳng được trói ai. Nhớ quá.


        Chiếc lạt mềm đã thoăn thoắt quận vào cổ tay tôi. Tôi tức giận điên cuồng, lồng lộn giằng xé. Tí giò càng cười to:


        - Cứ thử rãy rụa thật khoẻ, xem tài nghệ trói buộc của tớ ra sao. Nào… nào… thở à?… Mệt rồi hả?… Nào, cố lên! Cố lên… Đờ ra à?… Hàng chưa?… Hàng thì tớ cởi trói cho…


        Tôi lợm giọng, nhìn lão Tí giò nhảy múa, hí hửng trước mặt tôi. Mắt Tí long lanh. Tay Tí huơ huơ con dao lá lúa, mà vờn mà doạ. Tôi khinh bỉ nhìn bộ mặt kì quái ấy. Và tôi nhổ toẹt. Tí giò lấy tay vuốt mặt, rồi gầm lên.


        - A! Tên láo xược.


        Và hắn vung con dao lá lúa đâm thẳng vào trái tim tôi. Tôi thét to, và ngất lịm…


 


IV.  Cực  Thiên  Thai


 


Cuộc  viễn  du  vào  tương  lai


 


 


         Cơn hoảng nộ bệnh tật dẫn tôi từ xứ Quái đến xứ Đợi Chờ, từ nỗi mong nóng bỏng của tôi bay sang Bãi Chết, ở đó tim tôi bị đâm thủng.


         Tôi nằm lặng trong tối đêm mê sảng. Hoảng nộ ghé tai tôi hứa hẹn sẽ cho tôi du hành khắp vương quốc tối mò, đi tìm những gã khổng lồ mù loà, câm điếc, có sức mạnh lay chuyển địa cầu, chỉ một vẫy tay đã xây nên ngàn vạn lâu đài, rồi lại một cái vẫy cờ đen làm thế gian điên đảo.


         Một nỗi nhớ mầu đen, một cơn thèm những miền bóng tối, một u hoài nguyên thuỷ, một hành trình trở về cội nguồn.


        Mẹ ơi! Con muốn khóc, vì hình như có bàn tay mẹ âu yếm. Con thu hình bé bỏng, nước mắt cứ tuôn và lòng bỗng vơi nhẹ.


        Tiếng ạ ời của mẹ ta, hay tiếng gọi buồn xứ chết? Chưa đâu! Mẹ chưa gọi con về. Phải đi cho hết đã. Phải đến bến bờ nào xa lạ nhất. Hãy đến mà tự nghiệm, mà sống cho đến tận cùng của những xung động thần kinh. Ta cho con du hành tới một xứ sở hoang đường cổ tích. Cho con du hành tới tương lai. Đó là xứ sở đẹp nhất, cực lạc nhất mà ta tạm gọi là Cực Thiên Thai. Từ dày đặc sương mù hỗn mang, chiếc máy bay kì lạ đã dẫn tôi đến một vùng ánh sáng rực rỡ có đủ sắc cầu vồng: xứ Cực Thiên Thai.                       


Cánh cửa đột nhiên toang mở.


        Ánh sáng hồng hào ào vào bóng tối. Chói loà, đấy là cảm giác đầu tiên về xứ Thiên Thai.


        Tiếng hát, tiếng đàn, tiếng cười vang lên. Và một tiếng loa dứt khoát như một tuyên ngôn.


        “Ở đây, chỉ có tiếng cười!


        Thật mâu thuẫn. ở cái xứ sương mù mà tôi đã qua, (ảo mộng này đã bị xoá trong trí nhớ), cô bé ưu phiền đã trách cứ tôi vì không còn nước mắt; thì ở đây nước mắt lại là tội lỗi. Tiếng loa không nói tuột ra điều ấy; bởi vì tôi là một màng cảm súc cực kì nhạy; bởi vì sắc điệu của tiếng loa thật là nghiêm nghị, nó như vẻ mặt của ông thày tu đang rao giảng, có lúc nó như cái giọng khắc khổ của ông thày giáo; và có thể nói nó như khuôn mặt lạnh băng của viên chánh án.


        Bên trong tôi, chợt một tiếng thầm vang lên chỉnh đốn: “Chớ vội vã, hãy mở lòng, hãy giang rộng cánh tay ra để đón nhận những điều kì diệu mà con người chưa từng thấy từ trước tới nay”.


        Mắt tôi đã quen dần cùng ánh sáng.               


        Thì ra tôi đang đứng giữa một sân ga. Một chiếc máy bay kì lạ nào đó đã mang tôi đến xứ Thiên Thai. Ngàn vạn ngọn đèn đủ mầu sắc đang nhấp nháy chào đón. Cô phát thanh hướng dẫn khách du lịch bằng một giọng ngọt ngào mời mọc:


        - Xin mời quí khách biết nói tiếng Anh đến trước cửa lâu đài có chiếc đèn mầu đen.


        Tôi ngẩn người: “Lại có ánh sáng mầu đen sao?”. Khoa học không công nhận mầu đen. Qua lăng kính phân tích ánh sáng không thấy mầu đen trong sắc cầu vồng. Nhưng, trên thực tiễn, nó vẫn tồn tại.


        Kìa! Trên sân ga Thiên Thai, cái mầu đen đang tỏa sáng. Đó là viên ngọc mầu đen, hoặc một viên kim cương đen khổng lồ phát sáng. Khi cô phát thanh dứt lời, thì đột nhiên ở một toà lâu đài giữa sân ga, một viên ngọc đen to như cái chum, trụ chót vót trên một cột cao ở đỉnh lâu đài, chợt khởi sáng. Mới đầu, nó rực lên lung linh, sau đó nó toả ra một vầng hào quang càng ngày càng mạnh, cuối cùng ta cảm giác như nó đang bắn ra muôn vàn những tia sáng mầu đen. Thật kì dị! Những tia vừa đen vừa chói sáng.


        Quang cảnh sân ga thật hoang đường. Mầu đen chợt ôm trùm cảnh vật… Những ngôi nhà khoác áo đen, những con người khoác áo đen. Quái lạ chưa! Đen thế mà vẫn thấy mặt nhau; những khuôn mặt đột nhiên biến vẻ. Những hàm răng! Chỉ riêng răng là không nhuốm mầu đen. Không hiểu có một phản ứng nào đó nên ánh sáng đen không bắt được vào hàm  răng. Vì thế cho nên giữa một không gian mầu đen, những hàm răng chợt được tăng hết độ trắng. Trắng nhởn… trắng phau… trắng bóng… trắng toát… Bên cạnh tôi, một người chợt phá lên cười. Trông hàm răng nhọn của anh ta sao mà đáng sợ. Nhìn hàm răng ấy tôi cũng bật cười theo. Và tôi chợt hiểu, xứ Thiên Thai đã sử dụng những kĩ thuật đặc biệt của mình, để bắt du khách mới đặt chân tới phải phát ngay ra tiếng cười đồng loã cùng với họ Tôi liếc mắt nhìn chung quanh. Mọi người đều đang cười. Những hàm răng đều nhe ra hết. Nhìn những hàm răng ấy, đột nhiên tiếng cười trong tôi tắt ngấm. Tôi nhìn ra xa… Trông chiếc máy bay đậu trên đường băng sao giống hình con quạ. Cô gái Thụy Điển tóc bạch kim chợt biến hình như một bà già.


        Những tia sáng đen được gia tăng hết cường độ. Bầu trời loé đen. Đó là một trận bắn pháo hoa mầu đen. Những chùm hoa đen rơi từ trên trời xuống, gây cho ta cảm giác lo lắng nhưng vô cùng hấp dẫn. Thần kinh ta căng lên mỗi khi cảm thấy những chùm hoa đen kia như một tấm lưới đang chụp lên đầu ta. Tôi chợt nghĩ tới một câu, mà hình như tôi đã đọc được ở đâu đấy:


        “Màu đen là mầu sáng nhất. Màu đen cũng là mầu hấp dẫn nhất.”


        Lẽ dĩ nhiên, khách sạn của những người biết nói tiếng Nga phải được trang điểm bằng ngọn đèn đỏ, ngôi sao đỏ. Những phát thần công nổ rung trời. Những chùm pháo hoa đỏ đan chen vào những chùm hoa đen. Ánh sáng của chúng tưới lên mặt người, tranh nhau lúc đỏ, lúc đen, làm những khuôn mặt biến hình liên tục: lúc hồng, lúc đen nhờ, lúc đỏ chói, lúc đỏ bầm, lúc mầu hoa hiên, lúc đen như chôn chảo … Những hàm răng trắng nhởn lúc trước, khi gặp mầu đỏ hàm răng mờ đi, khi gặp mầu đen cảm giác như chúng lại nhe ra. Cảm giác gây cười lúc trước đã hết, lúc này còn đọng lại trong ta là sự sợ hãi.


         Rồi bầu trời chợt như được rạch làm đôi: một bên là ánh kim cương, một bên là hừng hực lửa cháy. ở đường ráp ranh ngoằn ngoèo một con rồng đỏ và một con rắn đen. Chợt dâng lên cảm giác như một cuộc hiến máu thời nguyên thuỷ. Những Gogol, Tolstoi, Dos mặc áo đạo sĩ đang giang tay rộng, ngửa mặt lên trời mà cầu khẩn:


         - Ôi Thượng đế! Phải chăng cần rửa bằng máu mới sạch được những tội lỗi của thế gian này? Mới xây dựng lại được thế gian này?


         Tôi choáng váng như người vừa uống xong một ly rượu ma quái. Thần kinh vẫn còn rung như sợi tơ đàn. Tôi chệnh choạng bước về ngôi nhà khách Việt Nam mà ngọn đèn hiệu là quả tên lửa màu da cam. Đất quê tôi đã hứng đựng quá nhiều bom đạn, đến nỗi sắc màu chiến tranh còn dư đọng trên ngọn đèn hồng. Ôi! Màu da cam tên lửa! Cội nguồn của ung thư, gốc rễ của những đứa con quái thai…


         Mệt quá vì một cuốn phim ứ màu sắc. Căng thẳng quá vì một cuộc chiến tranh màu sắc. Ôi! Đen đen, đỏ đỏ, tím tím, vàng vàng, mà làm chi!


         Tôi khát, tôi khát… Tôi thèm một dòng suối … Tôi thèm một cánh cò… Tôi thèm một màu xanh biển lúa…


         Tôi vào căn nhà khách, nằm lăn ra nền, và đánh một giấc ngủ dài lại sức.


         Tôi tỉnh dậy đã thấy một cô gái xinh đẹp đang ngồi chờ ở ghế sa lông. Cô vui vẻ:


         - Chào ông Hoàng. Ông ngủ một giấc ngon chứ?


         - Cô là ai? – Tôi tỏ vẻ ngạc nhiên.


         - Em tên là Mi. Em là phục vụ viên, hướng dẫn viên du lịch, và kiêm cả việc phiên dịch nữa. Chắc là ông cần đến em.


         Lẽ dĩ nhiên, tôi phải cần đến sự giúp đỡ của cô gái xinh đẹp kia. Chúng tôi làm thân với nhau rất nhanh chóng.


         Theo Mi, tôi được biết mình đang ở trên một xứ sở kỳ lạ, một nơi ở đó người ta đang thực hiện những mơ ước tốt đẹp nhất của loài người. Tôi gọi xứ này là Cực – Thiên – Thai, còn nhân dân ở đây gọi nó là Xứ – Không – Nước – Mắt; bởi vì không một con người nào của xứ này biết khóc. Mi hỏi tôi rất ngây thơ:


         - Nước mắt nó thế nào hở ông?


         Tôi trả lời:


         - Nó như những giọt sương, những giọt ngọc mà đêm buồn đã đánh rơi trên lá cỏ.


         - Thế… sương là gì?


         Tôi chợt ngớ người ra. Mới đầu, tôi tưởng cô ta đùa bỡn vì cách trả lời của tôi có chút cầu kỳ kiểu cách; nhưng nhìn đôi mắt rất thành thật của Mi, tôi mới hiểu cô không đùa mà vì cô không biết thật. Tôi vô cùng ngạc nhiên vì một cô gái xinh đẹp nhường kia lại không biết mặt những giọt sương. Chẳng lẽ nào cô không có một chút thơ thẩn trong cuộc đời, một chút bâng khuâng về tình yêu chẳng hạn; tôi biết vào những giờ phút đó, những cô gái thường một mình đi ngắm cảnh chiều, hoặc vơ vẩn bên một cánh hoa hồng ngậm sương mai. Sau tôi mới vỡ lẽ ra một điều: Xứ – Không – Nước – Mắt là một xứ cực kỳ khoa học. Cả đất nước này là một gian phòng điều hoà nhiệt độ khổng lồ. ở đây không có những khái niệm: tuyết, rét, nóng, bão… ở đây chỉ có mùa xuân. Mưa theo ý muốn. Nắng theo ý muốn. Gió theo ý muốn… Lẽ dĩ nhiên, các nhà bác học có thể tạo ra sương sớm, tạo ra những giọt ngọc thiên nhiên; nhưng có lẽ những giọt sương ấy quá ư là phù phiếm, và cũng có lẽ chúng thuộc về phạm trù gợi buồn, nên người ta đã quyết định không tạo ra chúng.


         Chính vì lẽ đó nên tôi đã mất cả tiếng đồng hồ để giải thích, để miêu tả và để làm trực quan cho cô Mi hiểu. Tôi lấy một ống pi – pét hút nước lên, rồi khéo léo để rơi một giọt nước nhỏ lóng lánh, cho nó nằm đậu trên một cánh hồng nhung. Tôi nói:


         - Em hãy tưởng tượng có một chàng trai yêu em, rồi một hôm nào đó, anh ta lại đi với một cô gái khác; chắc chắn em sẽ ”buồn”… à, xin lỗi… em sẽ bâng khuâng. (Tôi phải vội vã chữa lại cách nói, vì cô gái mới cho tôi biết, ở đây không một người dân nào được phép nói đến chữ buồn, vì đó là một chữ phạm huý)


        Cô Mi chợt phá lên cười:


        - Ông uỷ mị quá. ở xứ này, các cô gái không bao giờ bâng khâng như thế. Bởi vì mất chàng trai A21 này, ta lại có chàng trai A21 khác.


        Đến lượt tôi trở nên ngớ ngẩn. Tôi hỏi:


        -  Cô nói A21 là thế nào? Tôi chẳng hiểu.


        Cô gái giải thích:


        - Ở đây, các nhà bác học có thể tạo ra những con người theo đơn đặt hàng. Ví dụ, em thích có một đứa con tóc đen, mắt xanh mũi dọc dừa, hát hay và có năng khiếu về cơ khí. Như vậy em sẽ đến viện sinh đẻ, đưa ra yêu cầu đó. Các nhà bác học sẽ tra bảng tìm xem yêu cầu đó thuộc về mẫu gì? Con của em như thế thuộc về mẫu X.1003. Người ta sẽ ra ngân hàng nhân chủng tìm về một loại tinh trùng nào đó và một loại trứng nào đó. Mẫu trứng ấy và tinh trùng ấy sẽ gặp nhau trong ống nghiệm. Sau khi mẫu trứng được thụ tinh, người ta sẽ đem nó cấy vào tử cung của em; và em sẽ có một đứa con hoàn toàn theo ý muốn. Và để tránh những bi luỵ không cần thiết, bao giờ người ta cũng tạo người theo cặp. Bên cạnh chàng A21 thông thường vẫn có một chàng A21’. Ngoài ra, ở viện sinh đẻ người ta còn lưu trữ hồ sơ về dòng A21; có thể có A21k, A21n, A21i … những con người này sẽ hao hao như nhau, có thể họ khác nhau về màu mắt, độ cao, hoặc một sở thích nào đó; và như thế em lại có thể tìm một chàng A21 nào đó theo ý em.


        Nghe Mi nói, tôi ngạc nhiên đến đờ đẫn:


        - Cô nói thế có nghĩa là có thể đẻ ra được một hoạ sĩ tóc vàng, cao 1,75m hoặc một nhà toán học mũi cà chua lại biết vẽ, tuỳ theo com măng?


        - Chứ sao! Cô gái cười ròn - Ông sẽ còn được tận mắt xem những điều kỳ lạ khác. Ông cần ghi nhớ: xứ sở này là xứ cổ tích, xứ của huyền thoại, vì ở đây người ta có thể làm ra những điều chỉ xảy ra trong chuyện cổ tích.


        Ngày nọ, rồi ngày kia… tôi đã lạc vào một xứ mơ. Tôi ngơ ngác lạc vào một khu rừng táo đen; tôi lạ lẫm trước một đàn ngỗng vàng; tôi sửng sốt trước những con bò khổng lồ màu trắng; tôi ngạc nhiên trước những con lợn nặng hàng tấn, chỉ biết nằm mà ăn chứ không biết đứng; tôi ngây ngất trong một biển lúa mênh mông chạy đến tận chân trời. Của cải ê hề đầy rẫy.


        Hôm nay, cô Mi dẫn tôi đến thăm một xưởng máy. Cô gái nói:


        - Ở nước Mỹ, người ta đã trải qua những giai đoạn: quản lí xí nghiệp bằng dây chuyền, rồi quản lí bằng tâm lí học. Ở đây, chúng tôi quản lí xí nghiệp bằng sinh học, bằng hoá học, bằng vật lý học…


        Đây là một xí nghiệp cơ khí. Tôi đến phân xưởng máy tiện. Hơn một nghìn chiếc máy cùng chạy một lúc. Công nhân làm việc bằng bấm nút tự động. Chỉ nghe tiếng máy rít, không một tiếng người. Họ nói chuyện với nhau bằng tín hiệu ngón tay, tín hiệu của người câm.


        Thấy chúng tôi vào, họ gật đầu chào. Tôi dừng chân, hỏi chuyện với một cô thợ. Cô ta chỉ lắc đầu, rồi cười. Mi kéo tay tôi:


        - Ông đừng hỏi. Họ không nói được đâu.


        Tôi ngạc nhiên đến cực độ:                         


        - Cô bảo sao? Tất cả những người này đều câm?


        Mi kéo tôi ra đến sân mới giải thích:


        - Tôi đã nói trước với ông rồi. Ở xứ tôi người ta quản lý bằng sinh học, hoá học, vật lý học…


        Tôi chợt hiểu. Tôi nói bằng một giọng bực bội:


        - Nghĩa là các người đã cho họ uống một loại thuốc hoá học để bắt họ câm, để cho họ chẳng còn nói được nữa?


        - Ông chỉ mới hiểu một chút xíu. Trông ông có vẻ phẫn nộ. Có gì đáng phẫn nộ đâu. Câm ở đây là câm có thời hạn. Buổi sáng đến xưởng, công nhân được uống thuốc để tăng lực, đồng thời để mất tiếng nói trong vòng bốn tiếng đồng hồ (ở đây, một ngày chỉ làm việc bốn tiếng). Sau bốn tiếng, con người lại nói năng như thường. Đây là sáng kiến vĩ đại của giáo sư tiến sĩ hoá học Z5. Ta biết rằng khi nói chuyện với nhau, con người sẽ mất thời gian, sẽ tiêu hao năng lượng một cách phí phạm, sẽ làm cho óc bị phân tán không tập trung vào lao động, và gây ra nhiều giờ chết. Sáng kiến của tiến sĩ Z5 từ khi ra đời đã làm năng xuất của toàn xứ sở tăng 50%.


        Tôi đi từ bàng hoàng này đến bàng hoàng khác. Qua câu chuyện, Mi còn lộ cho tôi biết ở đây người ta còn dùng cả hóa học vào pháp luật. Ví dụ ăn cắp từ một đến mười đồng thì phải phạt câm trong một tháng; uống rượu say, phải phạt câm nửa năm; gây gổ đánh nhau, phải phạt liệt chân trong một tháng; buồn rầu bị phạt mù tạm thời từ một tháng đến ba năm.


        - Trời ơi! – Tôi kêu lên – Buồn rầu mà bị trừng phạt nặng nề đến thế sao?


        - Buồn rầu là một tình cảm sa đoạ, nó chỉ thuộc về những chế độ thối nát xa xưa. Ở đây, cơm anh ăn thừa mứa, quần áo anh mặc quá dư dật; tiện nghi quá đầy đủ… Sinh hoạt trai gái tuỳ anh lựa chọn… Vậy thì, tại sao anh buồn? Người nào buồn, kẻ ấy là sâu mọt của xã hội.


        Thấy cô gái đang quá ư hùng hồn, tâm thế đang ở trong một trạng thái phấn khích, tôi biết mình đã động chạm đến một điểm nhạy cảm nhất. Có thể đó là một điểm huý kị của xứ sở, vì vậy tôi vội lảng sang chuyện khác. Tôi hỏi sang chuyện hôn nhân gia đình vì chắc đó là đề tài lý thú. Quả nhiên, cô gái chợt vui vẻ hẳn lên:


        - Ở đây, chúng tôi lấy nhau hoàn toàn tự do. Sinh hoạt trai gái đã trở nên một sinh hoạt hoàn toàn vui thú. Kinh tế không dính líu vào quan hệ nam nữ. Bởi vì kinh tế được đồng loạt hoá, không ai giàu nghèo hơn nhau. Gia đình cũng thay đổi tận cội rễ. Gia đình cũ gồm hai vợ chồng và con cái nay bị phá bỏ, bởi lẽ, chính vì người ta quá chăm lo đến gia đình tế bào, nên con người sinh ra tư hữu, chỉ biết bo bo làm giầu cho gia đình, từ đó gây ra bao rối loạn xã hội. Bây giờ, chúng tôi có những đại gia đình, gồm nhiều ông bà, nhiều vợ chồng, nhiều con cái cùng sống chung với nhau. Chắc ông sẽ hỏi tôi về vấn đề con cái? Xin trả lời: sự giao cấu tự nhiên, thụ thai tự nhiên chỉ đẻ ra những đứa con ốm o, quái gở. Vấn đề sinh đẻ thuộc về kế hoạch nhà nước, một kế hoạch có tầm số một. Công dân có quyền lợi và nghĩa vụ cần phải thực hiện kế hoạch ấy. Ví dụ, nhà nước năm nay cần đẻ thêm mười nghìn dân, trong đó, chín nghìn công nhân, mười nhà bác học, chín trăm kỹ sư và chín mươi người làm nghệ thuật các loại. Những người đàn bà phải đến viện sinh đẻ nơi mình ở để đăng kí thực hiện nghĩa vụ sinh đẻ. Tiêu chuẩn mỗi phụ nữ phải đẻ từ một đến ba đứa con, tuỳ theo từng người. Người ta sẽ căn cứ vào những dữ liệu khoa học nhất để cấy vào tử cung người đàn bà một chiếc trứng đã dược thụ tinh và xử lý gien theo ý muốn. Như vậy, trẻ con sinh ra ngày càng khoẻ mạnh, bởi vì trứng thụ tinh là do một trại giống đảm nhiệm, trứng và tinh trùng đã được chọn lọc rất tinh vi. Có những người đàn bà và đàn ông siêu đẳng về một mặt nào đó, thường hàng tháng phải đến cung cấp trứng và tinh trùng cho trại giống nhân chủng. ở trại giống K1 của chúng tôi, có đủ các loại trứng đã thụ tinh lại có một Phòng xử lý gien siêu hạng. Trứng đẻ ra các nhà bác học, trứng đẻ ra các công nhân cực khoẻ, trứng những cô danh ca siêu đẳng.


        Lời giới thiệu của cô Mi làm tôi ngây người. Cảm giác kinh ngạc và lo lắng đồng thời cùng đến. Ở đây, người ta đương làm thượng đế. ở đây người ta đang loại trừ tự nhiên. Ở đây người ta đang quá táo bạo và quá lạc quan. Ở đây chất xám đang bị chương trình hoá.


        Sự thần kỳ thường làm con người ngây ngất kính phục. Sự thần kỳ chiếm đoạt ta, tước bỏ của ta ý thức về tự do. Trước thần kỳ, con người mất lựa chọn; thái độ thường hằng là quì xuống, chấp nhận nô lệ. Tôi không ghét sự thần kỳ dưới góc độ khoa học, mà ghét nó dưới góc độ nhân vị. Thần kỳ càng thêm thần kỳ khi nó mang chiếc áo bào sặc sỡ khoa học. Sức mạnh bức đoạt của nó sẽ nhân gấp ngàn lần vì nó nhân danh cái lý.


        Những ý nghĩ đó dần dần nhen nhóm trong tôi; mới đầu chỉ là những tia lửa ghen ghét. Tôi ghen với khoa học. Khoa học mà hơn hẳn tự nhiên sao? Mà ở xứ này khoa học hơn hẳn tự nhiên thật. Ở đây có bàn tay phù thuỷ. Người ta đang cấy một thứ mang cá vào con người; xứ Không – Nước – Mắt định dần dần cho phép người dân của mình có thể sống được cả ở trên cạn và cả ở dưới nước. Người ta định xây những thành phố dưới biển, và người dân có thể thở bằng mang cá ở lâu đài đáy biển.


        Nghệ thuật ở xứ này cũng có thể nói là thần kỳ hay kỳ dị. Người ta cũng đã hoá học hoá và vật lý hoá sân khấu. Xứ Cực – Thiên – Thai chỉ biểu diễn hài kịch. Ở đây những nghệ sĩ hề là những ông hoàng bà chúa. Trong nhà hát, người ta bơm một chút hơi nào đó để kích thích trung tâm gây cười của khán giả. Tôi đã tận mắt chứng kiến một chợ cười: cười nụ, cười duyên, cười hoác, cười hô hố, cười hì, cười gié, cười hổn hển, cười ôm đầu, cười giang tay, cười ôm bụng, cười nhảy cỡn, cười cấu xé, cười lăn đùng ngã ngửa… chỉ còn thiếu cười ra nước mắt.


        Tôi nôn nao vì chợ cười, tôi ngạt thở vì tiếng cười. Rồi tôi buồn nôn. Và đêm về tôi khóc. Tôi khóc một mình. Khóc thương cho tiếng cười. Tôi chợt hiểu ra một điều: may thay tôi còn tiếng khóc. Qua chợ cười đêm đó, tôi hiểu hành lý con người ở đây quá nghèo. Cuộc sống con người gồm có tiếng khóc – câu cười. Người ta đã cướp đi của họ cái nửa phần phong phú nhất: tiếng khóc. Và tôi thông cảm với sự khốn cùng của họ…


        Đã nhiều buổi chiều, tôi bắt gặp những con người đủ loại ngồi thừ trong ghế bành, ngồi chưng hửng ở bao lơn, ngồi thảm hại trong những xó góc. Họ ngồi đấy với những con mắt ráo hoảnh khô cạn. Người ta đã ăn cắp mất của họ những giọt nước mắt … Khi đứa trẻ sơ sinh ra đời, người bác sĩ đã nhỏ vào mắt nó một giọt thuốc quỉ để làm teo tóp đi tuyến lệ, cái tuyến nhỏ bé nhưng nhân đạo đã tạo ra những giọt nước mắt làm vơi nhẹ lòng người. Càng nghĩ một tình cảm vừa day dứt vừa phẫn nộ càng lớn nở trong tôi.


        Tôi phản ứng bằng cách nằm dài trong buồng, kêu khó ở, để khỏi phải đi tham quan. Khoa học ư? Những trò phù thuỷ của những ông thầy mo hiện đại làm tôi chán phè. Thương thay những nhà khoa học ngây dại, họ không hiểu điều gì cũng phải có giới hạn. Khoa học cũng phải biết ngập ngừng trước ngưỡng cửa của cuộc sống; bởi vì chạm vào sự sống thiêng liêng, khoa học sẽ trở thành đồ tể, nó sẽ phản bội con người.


        Tôi rất ngạc nhiên khi chiều hôm đó cô Mi đến cáo biệt:


        - Bây giờ, ông có thể tham quan một mình, bởi vì ông đã có một vốn từ vựng tạm đủ, để có thể tự giao thiệp với mọi người xứ này.


        - Còn cô, cô đi đâu?


        - Em phải đi làm một công việc mới.


        Tôi cười mỉm:


        - Chính quyền ở đây đã tin tôi rồi hay sao? Tôi đã được phép có quyền một mình đi lại ở xứ sở này?


        Cô gái tàn nhẫn một cách tự nhiên:


        - Ông hàm ý đến việc theo dõi ông ư? Nói thực, chúng tôi ở đây chẳng ai tin ai. Ai cũng là người theo dõi kẻ khác, đồng thời là người bị theo dõi. Nhưng may thay cơ quan mật vụ ở đây đã sản xuất ra được những viên gạch thám tử. Đó là những viên gạch điện tử có khả năng thu phát, và biết ghi cả tiếng nói, cả hình ảnh. Những viên gạch điện tử ấy được xây lẫn vào những viên gạch bình thường khác. Do đó, bất cứ ở đâu cũng có những con mắt, những chiếc tai để nhìn để nghe những điều cần tìm hiểu.


        Không biết những lời nói ấy của Mi có phải là một đe doạ, hay đơn thuần chỉ là những thuyết minh cho khách du lịch của một cô hướng dẫn viên xinh đẹp có nụ cười mê hồn.


        Mi đã đi một hôm rồi. Tôi vẫn nằm dài lặng lẽ và nghĩ lung mung.


        Chao ơi là buồn! Buồn thăm thẳm, dài dặc. Phải chăng nỗi buồn của kẻ xa nhà? Có phải nỗi buồn này sinh ra từ sự đối nghịch giữa những thói quen thường nhật và những tập tục xa lạ ở đây? Không phải. Vậy thì có thể là nỗi buồn khát vọng, ước muốn không được thoả mãn? Cũng chẳng phải. Bởi vì tôi làm gì có thèm muốn ở xứ sở xa lạ này. Vậy, chắc là những nỗi buồn đen cư ngụ bơ vơ ở những miền hoang sơ mù tịt của tâm hồn. Đen nhưng thật ra là trắng; mù mịt nhưng thật ra là cội nguồn; sức hoang của nó thèm những cuộc hành hương về những ngôi đền nguyên thuỷ.


        Nỗi buồn đen cư ngụ thường hằng ở những đáy thẳm mọi người. Nó ngủ dài, ngủ dài… hầu như chẳng bao giờ biết thức, chỉ thỉnh thoảng mới u ơ cựa mình, gây cho ta những buồn tênh. Rồi một ngày nào đó, sau khi ta đã nếm trải đủ ngọt, bùi, cay, đắng; chợt một chiều tàn, tai ta nghe tiếng ngâm nga của chuông chiều; hoặc hồn ta ớn lạnh khi nghe tiếng khóc của một đứa trẻ thơ; hoặc tia nhìn của ta bỗng gặp một vũng máu, một thây người; hoặc có khi sống mòn mỏi trong cái thường nhật nhàm chán, ngây ngô, và bỗng một lúc nào đó ta chợt nhìn thấy một chiếc lá bay… và chỉ cần một chút xíu thế thôi, bỗng nhiên nỗi buồn đen thức dậy. Nó như người khổng lồ vô hình lay động tâm hồn ta bằng những lời thì thầm, tra hỏi đêm ngày. Nó tra hỏi về sự sống, cái chết, cái ý nghĩa về ta và về mọi người. Anh hành trình từ đâu đến và sẽ đến đâu?… Nỗi buồn đen đến với ta, một đôi khi có thể là hồi chuông nguyện, vì qua nó ta chợt bắt gặp cái Ta đích thực, và chợt thấy cái màn nhờ nhờ, chán phè, vô vị của cuộc sống. Nhưng, cũng có khi, nỗi buồn đen là tiếng chuông thức tỉnh. Con người chợt hiểu ngôi vị của cá nhân mình trong vũ trụ; và kỳ lạ thay, những sắc mầu muôn vẻ của thế giới bỗng bộc lộ ra chân tướng. Nỗi buồn đen lúc ấy sẽ là bánh xe lăn cho con người hành trình trên con đường gập ghềnh của cuộc sống.


        Cuộc đối diện của tôi với Buồn Đen chưa dứt. Hãy còn cái hương vị dư đọng thoang thoảng của nó, thơm như mùi hương lan, hương ngâu. Tôi tự cười mỉm: “Ô hay, nỗi buồn cũng mang hương”. Tôi vẫn lim dim hưởng cho hết khoái cảm của hương buồn. Chợt có tiếng ai nhè nhẹ:


        - Thế là ông đã mỉm cười rồi.


        Tôi giật mình. Một tiếng đàn bà.


        - Ai đấy?


        - Em đây. Mi đây.


        Tôi ngồi dậy, thấy Mi đang lặng lẽ đứng bên giường. Tôi vui vẻ:


        - Cô xong việc sớm thế? Cô đã về rồi sao?


        - Đâu có, việc của em còn dài.


        - Thế, sao cô tới?


        Mi cười:


        - Kỳ lạ thật! Em cảm thấy hình như đã quen ông từ lâu.                                


        Tôi ngạc nhiên vì cô gái đã nhắc cho tôi thức dậy một cảm giác tương tự. Tôi lại cười:


        - Có thể quen nhau từ một tiền kiếp nào đó cũng nên.


        Mi ngồi xuống, quay đi và nói nhỏ:


        - Kỳ lạ thật! Em bỗng thấy nhớ ông.


        - Nhớ tôi?


        - Vâng!… Vì ông… kỳ lạ quá… Ông khác người ta ở đây.


        - Tôi có điều gì khác?


        - Khác vì ông ít cười. Khác vì ông lặng lẽ. Khác vì ông nói những điều mà em cảm thấy, nhưng em chưa nghe thấy bao giờ…


        Tôi tiếp lời Mi:


        - Khác vì tôi biết buồn.


        Mi chợt giơ tay bịt miệng tôi lại, rồi thì thầm sợ hãi:


        - Em van ông, van ông đừng buồn. Và chớ có nói điều đó ở đây. Vì nói ra, chỉ có hại cho ông… và cho cả em nữa.


        - Cho cô? – Tôi ngạc nhiên, nhưng nhìn bộ mặt lo âu khổ sở của cô gái, tôi bỗng chợt hiểu. Và tôi im lặng ngay.


        Quyền năng của người đàn bà thật to lớn. Người đàn bà có thể biến thiên đường thành địa ngục, và đảo lại địa ngục thành thiên đường. Sau lúc Mi đến, nỗi buồn trong tôi tan biến ngay. Tôi như vẫn còn nghe thấy âm điệu ngọt ngào của cô gái: ”Em van ông… van ông đừng buồn…”


        Câu nói đơn giản ấy cứ theo tôi đi trên đường phố của xứ Vui. Đã mấy hôm rồi, hôm nay tôi mới gặp mặt phố phường. Nhìn người đi nhộn nhịp, tôi chợt hiểu rõ mối quan hệ mâu thuẫn rằng rịt giữa cái vui và cái buồn. Buồn càng sâu đậm, thì vui càng náo nức. Cái buồn làm ta trở thành người, nhưng có nỗi vui, con người sẽ trọn vẹn. Tôi bỗng cảm ơn sự vui sống mà cô gái vừa ban cho tôi bằng một câu nói quá ư đơn giản: “Em van ông… van ông đừng buồn …”.


        Có tiếng ai gọi phía sau lưng


        - Hoàng! Hoàng ơi!


        Tôi quay lại. Một người đứng tuổi, râu ria xồm xoàn, tóc dài đến lưng, quần áo giản dị, đứng nhìn tôi bằng đôi mắt lóng lánh sự vui. Quen quá! Quái lạ! Sao bộ mặt quen đến thế?


        - Không nhận được ra sao? – Bộ mặt xồm xoàm kia hỏi lại. Và nghe giọng nói ấy, tôi bỗng nhận ra ngay.


        - Kìa! Tám! Anh Tám gàn!


        - Khẽ chứ – Bộ mặt xồm xoàm đảo đi đảo lại, nhìn trước nhìn sau – Không nên để cho họ biết mình.


        Tôi sung sướng khoác tay Tám gàn, vừa đi vừa nghĩ: “Thật đúng lúc! Có Tám, mình sẽ thấy hết cô đơn ở xứ sở kỳ quái này. ở xứ phù thuỷ này, nếu ta chỉ độc thoại, không chừng sẽ hoá điên. Đối thoại là liều thuốc vơi nhẹ”.


        - Anh đến đây bằng cách nào?


        - Đến lậu. Không có giấy nhập cảnh. Tôi là kẻ vượt biên.


        - Để làm gì nhỉ?


        - Để nghiên cứu. Để truy lùng.


        - Truy lùng ai?


        - Tội ác.


        - Tôi không hiểu.


        - Rồi anh sẽ hiểu…


        Căn phòng Tám ở là một căn hầm để đồ, một nơi ở của những người gàn dở, một căn phòng của những kẻ thích xa lánh ồn ào. Căn phòng đó bề bộn, nhiều chai lọ, nhiều hoá chất lạ, nhiều dụng cụ cơ khí, điện, quang, nhiệt… Nhưng, nhiều nhất là những bình thuỷ tinh, với những nước hoá chất đủ mầu: xanh, lam, đỏ, da cam, tím, vàng…


        Tôi thốt lên:


        - Chỗ ở của anh giống nơi ở của những nhà luyện vàng thời cổ. Còn anh trông giống một phù thuỷ.


        - Có thể đúng.


        - Anh đang thực hiện một dự định không tưởng nào chăng?


        - Tôi đã thí nghiệm một điều ít ai nghĩ tới. Tôi may mắn lạc vào một kho sách cổ, ở đó tôi đã tìm thấy một bản thảo kỹ thuật kỳ lạ.


        - Tôi chán ngấy sự kỳ lạ.


        Tám mỉm cười. Anh phân tích ngay phản ứng của tôi:


        - Anh chỉ chán ngấy sự kỳ lạ vô nhân. Nhưng đây là sự kỳ lạ bổ ích.


        - Anh đang sáng chế cái gì?


        - Đúc một thứ gương, một thứ kính đặc biệt. Nhìn qua nó, ta thấy ngay bộ mặt thật của đời.


        Tôi cười:


        - Tức là anh đã sáng chế ra một loại “chiếu yêu kính” mà các bà tiên, bà phật xưa kia đã dùng nó để bắt bọn yêu ma quỉ quái phải hiện hình.


        - Đúng. Nhưng vì kính của tôi chỉ dùng để tìm nhận chân tướng con người, nên tôi đề nghị gọi nó là “chân tướng kính”


        - Phải chăng hôm xưa, tôi và anh đã nhìn thấy chiếc kính ấy đeo trên mắt Tchekhov? Chiếc kính không gọng?


        - Cũng gần giống. Nhưng chiếc kính của tôi hiền hoà hơn. Nó không dùng để phát lộ chân tướng của những người nhỏ bé với cuộc sống tủn mủn, hoen rỉ, đáng thương. Nó câm lặng, thông cảm với những kiếp người sống dở chết dở, lúc này độc ác, nhưng lúc khác có thể tốt bụng. Nó nhoè nhoà trước tiếng khóc, và biết long lanh trước một nhành hoa. Nhưng, khi chiếu nó vào một kẻ độc ác đích thực, nó biết quắc lên như đôi mắt phẫn nộ, và bắt kẻ kia phải lộ nguyên hình.


        - Đúng. Anh là một nhà luyện vàng hiện đại. Nhưng công việc đã tiến hành đến đâu?


        - Tạm gọi là xong. – Tám trịnh trọng rút ở túi ra một chiếc kính rất bình thường, trao cho tôi. 


        Tôi sờ nó, ngắm nó. Chiếc kính trắng hệt như một chiếc kính lão. Tôi thử đeo nó vào mắt. Ô hay! Kỳ dị chưa! Qua chiếc kính, căn phòng của Tám chợt như vui hẳn lên. Những bình thuỷ tinh đựng nước mầu chợt biến thành những chú bé tinh quái, mặt áo sặc sỡ đang toét miệng ra cười. Kìa! Những con mắt như đang lấp láy với tôi.


        Tám hỏi:


        - Anh thấy ra sao?


        - Thú vị. Qua chiếc kính của anh, tôi chợt thấy cuộc sống hồng hào lên.


        - Nhưng sẽ có lúc nó sẽ cho anh biết thế nào là mầu xám ngoét. Tôi có hai chiếc. Tặng anh chiếc ấy. Nhưng anh nhớ đừng nên lạm dụng nó. Chỉ khi nào thật cần, hãy đeo nó vào mắt. Bởi vì nguyên lý của chiếc kính này là tha thứ. Tha thứ để mà tích trữ năng lượng. Có như thế, khi gặp tội ác ta mới có đủ năng lượng phẫn nộ. Bởi vì nếu anh luôn luôn phẫn nộ với những mẩu đời oan trái, thì sợ sẽ có lúctâm hồn anh bị ảnh hưởng, nhàm chán và sơ cứng lại. Rồi, đến khi gặp một tội ác lớn, trái tim sẽ chùn chân, và anh sẽ là kẻ lặng im tòng phạm.


        Sau đó, Tám trầm ngâm nói nhỏ với tôi một điều; mà chắc anh chỉ hé mở:                    


        - Khi du lịch ở xứ này, sẽ có lúc anh phải dùng đến chiếc kính của tôi.


        - Đây là Cực – Thiên – Thai, xứ của niềm vui. Nhưng chiếc kính của tôi lại báo hiệu, đề nghị tôi phải nhìn bằng con mắt dè dặt. Chắc anh chưa hiểu rõ xứ này.


        Tám dừng lại, uống nước, rồi trầm ngâm kể:


        - Người đứng đầu Cực – Thiên – Thai tên là A1, hay còn gọi là công dân số 1. Có thể có bốn công dân B5, hoặc một trăm công dân I6, nhưng chỉ có độc nhất một công dân A1. A1 xây dựng đất nước này trên nền tảng triết học gọi là: chủ nghĩa cực kinh tế – cực duy lý – cực khoa học. Với ba ngọn cờ ấy, A1 đã hoàn thành được nhiều thành tựu kỳ lạ trên đất nước này.


       - Tôi cũng đã thấy nhiều điều kỳ dị. ở đây, người ta không biết khóc.


        Tám chợt có vẻ bồn chồn. Anh đi đi lại lại bên những hàng chai lọ. Rồi anh nói:


        - Sướt mướt là món hàng rẻ tiền ngán ngẩm. Nhưng không biết khóc ư? Hừ! Nhân loại ở đây rồi sẽ ra sao khi những tuyến nước mắt teo tóp đi một cách điên rồ? Chỉ biết tiếng cười! Thật là một ý nghĩ tốt đẹp. Đời chỉ có hoa và tiếng cười. Ai nghe cũng thấy hay. Nhưng họ quên mất rằng, thiếu nước mắt con người sẽ trở nên hoang dại, điên rồ. Phải nói rằng nước mắt là một ân sủng vĩ đại mà vũ trụ đã dành riêng cho con người. Loài người chỉ tồn tại khi còn nước mắt. Hết nước mắt, hết con người.


        Đột nhiên có tiếng gầm lên:


        - Câm đi! Đó là một luận điệu phản động của một kẻ cuồng ngôn.


        Tôi giật thót khi thấy hai người lạ mặt to lớn đã đứng sừng sững trong phòng Tám từ lúc nào chẳng hay. Đó là hai sĩ quan an ninh của xứ Cực – Thiên – Thai. Họ còng tay chúng tôi lại, rồi giải đi.


        Tôi bị nhốt trong một xà lim suốt ba hôm, không ai hỏi han tới. Tôi buồn bã suốt ngày ngồi ôm đầu.


        Hôm mới bị bắt, người ta nói rằng tôi đã dính líu vào một vụ gián điệp. Khi nghe vậy, tôi phản đối ngay:


        - Gián điệp? Tôi mà là gián điệp sao?


        - Đúng. Một loại gián điệp về tư tưởng.


        - Các ông lầm to. Tôi chỉ là khách du lịch.


        - Anh là khách du lịch giả danh. Còn tên kia là kẻ vượt biên. Nó là một tên gián điệp chính cống.


        - Các ông không có bằng chứng.


        - Sao lại không?


        Viên sĩ quan bấm nút một chiếc máy phát. Cuộn băng ghi âm phát ra rành rọt tiếng nói của Tám:


“Không biết khóc ư? Hừ, nhân loại ở đây rồi sẽ ra sao, khi những tuyến nước mắt đã bị teo tóp đi một cách điên rồ? …”


        Viên sĩ quan tắt máy, rồi tiếp: 


        - Mới đầu, tôi cũng tưởng các anh chỉ là những kẻ lạc hậu, nhưng khi chúng tôi phát hiện ra các anh đặt máy phản sóng ghi âm và ghi hình để vô hiệu hoá những con mắt điện tử của chúng tôi đã được chăng lưới, thì chúng tôi hiểu nhân dạng đích thực của các anh là những tên gián điệp.


        Tôi bào chữa:


        - Tôi hoàn toàn không biết điều đó. Và tôi xin thề với các ông rằng, cả anh bạn tôi nữa, anh ta chỉ là một nhà khoa học gàn dở. Sự điên gàn của Tám đã gây ra sự hiểu lầm cho các ông.


        - Cả đến việc giả định các anh là những thằng điên, chúng tôi cũng đặt ra. Chúng tôi cũng đã kiểm tra bằng những máy tinh vi để đo những dòng tín hiệu của não các anh phát ra. Để cho những dữ kiện thu thập được hoàn toàn vô tư, chúng tôi đã tiến hành kiểm tra ngầm, không cho các anh biết. Kết quả: máy cho biết rằng các anh hoàn toàn không điên, mà lại là những con người tỉnh táo, thông minh. Vậy, tóm lại, chúng tôi kết luận các anh là gián điệp. Điều đó hoàn toàn chính xác.


        Tôi kêu to:


        - Xin đừng tin vào máy.


        - Vậy, chúng tôi tin vào cái gì? Tin vào những lời nói vu vơ của các anh hay sao? Tội các anh đã quá rõ ràng. Các anh hãy chờ đợi sự trừng phạt.


        - Trừng phạt?


        - Chiểu theo pháp luật, tội gián điệp tư tưởng là phải tẩy não.


Tẩy não ư? Tôi ngồi phịch xuống ghế, run rẩy ôm đầu. Hôm trước, Mi đã kể cho tôi nghe pháp luật của xứ này. Tôi hiểu tẩy não nghĩa là chúng tôi sẽ được tiêm một hoá chất huỷ diệt chức năng tư duy. Nghĩa là, tôi vẫn sống, nhưng tôi không biết suy nghĩ nữa. Nghĩa là, tôi vẫn ăn, vẫn uống, vẫn lao động, nhưng tôi sẽ biến thành một thằng người ngớ ngẩn. Khi ai hỏi, tôi sẽ trả lời bằng một nụ cười rất hiền, nhưng ngây ngô; và người ta sẽ khen tôi: “Thằng này bây giờ khá, nó trở nên dễ chịu, thích hợp”. Nghĩa là tôi sẽ trở nên một cái xác chết biết cử động. Nghĩa là, người ta không muốn tôi chết thực sự, vì lý do kinh tế: Phải vắt cho hết cái chất kinh tế trong cơ thể một kẻ tử tù. Nghĩa là, tóm lại, tôi sẽ biến thành một cái máy, chỉ biết lao động cho đến khi tắc thở.


 


 


 


 


Hôm nay là ngày tù tội thứ tư ở xứ Vui, xứ Cực – Thiên – Thai. Hình ngục nan đào mà! Anh trốn đâu cho thoát. Đến trong những giấc mơ hoang đường anh cũng bị lưu đầy. Tôi chua chát, nghĩ thầm: “Ừ! Anh bị trị tội ở đây là phải quá. Bởi vì chỉ riêng cái tội anh buồn, không phải ở đây người ta mới trừng trị, trên thế gian còn nhiều nơi trị tội đó. Còn chuyện tẩy não? Rồi mai kia anh sẽ biến thành thằng đần, thằng ngốc. Ngốc ư? Thì bao giờ anh chả là thằng ngốc. Thiên hạ ai chả ngả theo kẻ mạnh. Còn anh, lúc nào cũng mải mê suy tư. Cái sự nghĩ nó làm khổ anh. Cục u đấy. Người ta sẽ cắt bỏ cục u hộ anh, giúp anh hành trình nhẹ nhõm. Vậy thì, u uất mà làm gì?”


Những ý nghĩ ngộ nghĩnh ấy cũng chẳng làm tôi khuây nhẹ chút nào. Tôi chợt như thấy đau đau trong đầu lâu. Tôi hoảng hốt nghĩ tới những mũi tiêm mà họ có thể trích cho tôi vào ban đêm. Chỉ nhói một cái. Thoảng nhẹ thôi, như một con rệp hoặc một con kiến đốt.


“Ôi chao! Đau quá! Tôi là thằng bị ăn cướp não sọ. Xin các người hãy trả não lại cho ta. Ta có tội tình gì? Ta chỉ muốn nghĩ, chỉ muốn làm con người. “Tôi thét to và bỗng dưng muốn khóc. Nhưng, nước mắt sao chẳng thấy chảy ra. Lại tiếp thêm một nỗi sợ hãi. Hay là… hay là họ đã nhỏ thuốc làm teo tuyến nước mắt của tôi rồi. Điều đó chắc chắn đã xảy ra, vì từ khi đến đây tôi đã mất cảnh giác. Tôi cay đắng, phẫn nộ: “Các người lại ăn cướp nốt cả nước mắt của ta ư?” Tôi gào thật to, và kỳ lạ chưa, trong cơn phẫn nộ nước mắt của tôi bỗng ứa ra ràn rụa. Mừng thay! Tôi sung sướng tiếp đón những giọt nước mặn nồng lăn xuống đôi môi. Tôi liếm láp như một chú mèo, khoan khoái tận hưởng vị đậm đà, sự vơi nhẹ của nó qua miệng và chảy vào máu huyết.


 


 


 


 


Hôm nay là ngày tù tội thứ năm ở xứ vui, xứ Cực – Thiên – Thai. Tôi ngồi đấy, trơ trơ ôm cái đầu lâu nóng bỏng. Những giọt nước mắt mặn nồng vẫn lăn xuống đôi môi thèm khát. Tôi nhớ rõ ràng một đêm nào đó, một bàn tay thơm ngát đã nhẹ nhàng nhỏ vào hai khoé mắt tôi hai giọt thuốc. Hai giọt thuốc mát lạnh làm tôi chợt tỉnh, và trong đêm đen, tôi chợt nhận thấy mầu hồng. Thuốc quỉ hay thuốc tiên? Chỉ biết rằng, mỗi buổi chiều về, tôi cứ thấy đôi mi mắt trĩu nặng. Đôi mi mắt phập phồng. Có lẽ những giọt nước mắt bị lưu đầy viễn xứ đã hoài hương, chúng lủi thủi trở về quê nhà, trở về quê Mắt, nhưng tấm tức vì không làm trôi ra được. Những giọt nước mắt héo hon vì chẳng được sinh sôi.


Trong vũ trụ, chỉ có hai loài biết khóc. Thứ nhất là loài đêm. Đêm xấu xí nhưng hiền hậu. Ai cũng sợ cái mịt mùng của nó, nhưng ai cũng yêu đêm. Mầm sinh sôi nảy ra từ đêm tối. Con tinh trùng gặp trứng từ đêm đen ướt át. Đêm nhỏ những giọt khóc long lanh đôn hậu, rắc những hạt sương ngọc, treo trên cỏ hèn lá úa. Thứ hai là loài người. Chẳng thấy ai tra hỏi gì về cội nguồn của nước mắt con người. Khoa học bảo nước mắt sinh ra từ tuyến lệ. Thật là một sự nhầm lẫn tai hại. Qua tự nghiệm, tôi đoan chắc rằng nước mắt chảy ra từ đáy thẳm tâm hồn. Tôi biết rõ điều ấy, vì bàn tay thơm ngát đêm xưa đã nhỏ thuốc huỷ diệt vào mắt tôi chính là bàn tay cô Mi. Bàn tay run run như ngập ngừng và hối hận. Tôi tha thứ cho cô gái lầm lạc, vì tôi linh cảm rằng nước mắt sẽ trở về với tôi.


Mấy hôm vừa qua, trái tim tôi vẫn phập phồng, nó vẫn thì thầm gọi những giọt nước mặn nồng trở về. Còn đôi mi mắt tôi thì vẫn trĩu nặng rưng rưng. Tôi đã trải qua bao âu lo, nghi ngờ, sợ hãi… Nhưng đến lúc này, thì nước mắt ấm áp lại từ nguồn thẳm trong tôi tuôn ra rào rạt.


Bàn tay thơm ngát của Mi đêm xưa run run. Tôi nhớ rõ ràng như vậy, bàn tay ấy đặt lên mặt tôi, vuốt ve, rồi ngập ngừng mãi mãi… sau cùng mới lẩy bẩy để rơi hai giọt nước xuống. Vì có sự ngập ngừng, lẩy bẩy ấy, nên tôi hiểu trong tận cùng của trái tim cô, cũng vẫn còn dư đọng một vài giọt nước long lanh. Cũng vì vậy nên tôi tha thứ cho cô.


                                                                   


                                                 


 


 


 


Hôm nay là ngày tù tội thứ sáu ở xứ Vui, xứ Cực – Thiên – Thai. Tôi run rẩy ôm cái đầu lâu nóng bỏng ngồi chờ chết. Tôi được biết rằng ở đây người ta có cả một kỹ nghệ khổng lồ ứng dụng vật lý học, hoá học, sinh học… vào việc tẩy não.


Có thể người ta tiêm hoá chất để huỷ diệt tư duy. Có thể người ta dùng một dòng điện, kết hợp với một kỹ thuật đặc biệt nào đó, để làm tê liệt một bộ phận của não. Cũng có thể người ta dùng phẫu thuật để cắt bỏ, cấy ghép…


Tư duy bao giờ cũng gắn liền với ngôn ngữ. Như vậy, tôi có thể biến thành một thằng câm. Tôi cay đắng tự nhủ:


“Hoàng ơi! Đáng đời mày lắm! Sao mày lại cầm bút? Sinh ư nghệ, tử ư nghệ. Một nhà văn, một nhà báo lại vừa câm vừa ngốc. Đã thấy thú vị chưa? Mà mày cũng đừng nên oán thán; bởi vì đã có một kỹ nghệ không lồ tẩy não, thì ắt phải có một số đông người bị tẩy não. Vậy là, sẽ có một cộng đồng người bị câm hoá và ngu hoá. Vậy là, đã có một nhân loại bị khoét óc và cắt lưỡi. Mày sẽ không cô đơn. Cái nhân loại thảm thương ấy ít nhất cũng còn những bàn tay, ít nhất cũng còn tiếng bập bẹ cảm thương, để du dím mày, để sót sa cho mày, nếu không phải bằng nước mắt thì cũng bằng những tia nhìn hiền hậu. Cũng có thể mày còn cô đơn hơn mày tưởng tượng, bởi vì trừng phạt cũng chia ra nhiều mức độ. Sẽ có kẻ chỉ riêng bị câm; sẽ có kẻ chỉ riêng quên mất chữ; sẽ có kẻ bị mất riêng chức năng liên tưởng của óc; sẽ có kẻ chỉ còn nụ cười ngớ ngẩn; sẽ có kẻ chỉ còn biết hát như máy ghi âm… Người ta sẽ có biện pháp để phân hoá cái đám nhân loại tật nguyền ấy; để cho họ tự tố cáo lẫn nhau, tranh giành lẫn nhau, cấu xé lẫn nhau; để cho họ mất khả thể biến thành một cộng đồng có tiềm năng phẫn nộ. Trong cái bậc thang tật nguyền; kẻ nào bị hình phạt mất toàn bộ tư duy là nặng nề nhất. Mày ở trong số hiếm, vậy sự cô đơn của mày sẽ sâu đậm hơn. Có thể gọi Cực – Cô Đơn. Hiếm nhưng không phải là độc nhất; vậy mày vẫn còn có thể tự an ủi là vẫn còn có ốc đảo trú chân, mày vẫn còn những người bạn bè tật nguyền của mày, tuy ít ỏi…


Thiên chúa giáo có Thiên Đàng; Phật giáo có Niết Bàn; con người xây dựng Cực – Thiên – Thai. Vậy, tôi sẽ đi đâu, sẽ về đâu? Tôi làm gì nên tội mà tất cả các cộng đồng đều như muốn xua bỏ tôi, khai trừ tôi, thậm chí muốn ăn thịt tôi?


Một tiếng thầm quen thuộc bỗng văng vẳng trong óc:


“Kìa! Anh Hoàng, sao lại bi phẫn thế? Đừng nên bi kịch hoá cuộc sống. Tôi biết anh là người theo một tôn giáo. ”


        Tôi cãi lại:


“Tôn giáo nào? Tôi chưa bao giờ phát nguyện. ”


        Tiếng thầm như đùa cợt, lại vừa như nghiêm túc:


“Đạo Nước – Mắt. Anh quên rồi sao? ”


        Tôi cáu kỉnh:


“Hừ! Đừng có đùa! ”


        Nghe cứ như tiếng anh bạn thân suốt đời chỉ biết bông lơn. Nhưng cũng có thể là tiếng một anh bạn khác suốt đời chỉ biết nghiêm nghị. Và, cũng có thể là tiếng châm chọc của một người thù địch với tôi.


        Tôi băn khoăn, chợt cảm thấy như có ai đương chăm chú nhìn mình. Tôi ngẩng đầu, và nhận ra người sĩ quan an ninh đang lặng lẽ đứng trước mặt.


        - Ông đến tự bao giờ? – Tôi hỏi.


        - Tôi mở cửa, vào đã lâu mà ông không biết.


        - Nghĩa là ông bắt gặp tôi khóc?


        - Lần đầu tiên tôi trông thấy người khóc.


        Tôi châm chọc:


        - Cảm tưởng của ông ra sao? Chắc khó chịu?


        Người sĩ quan cười:


        - Đó là một lĩnh vực mà… tôi chưa hề có kinh nghiệm. Nhưng… - người sỹ quan hạ giọng – nhưng… có lẽ người ta tha ông là phải.


        - Ha ha… Tôi được tha vì tôi biết khóc.


        Khuôn mặt cảm tình của người sĩ quan bỗng nhiên đanh lại và trở về sắt đá:              


        - Tôi khuyên ông nên nghiêm túc. Chính câu nói vừa rồi của ông có một hàm nghĩa phạm tội. Tôi nhắc để ông biết, ông là người may mắn. Chính công dân vĩ đại A1 đã tự tay ký lệnh tha ông. Nhiệm vụ của ông lúc này là phải sửa sang trang phục chỉnh tề, giữ cho vẻ mặt tươi tắn, để đi đến lâu đài cảm ơn lượng bao dung của người.


Cô Mi ăn mặc lộng lẫy trong bộ quần áo đỏ chói đứng bên một chiếc xe hơi sang trọng đậu trước cửa nhà giam. Mi đã mở sẵn cửa ca bin để tôi vào ngồi cạnh. Chính cô tự lái xe. Mi líu lo như một con chim:


        - Được tin ông bị bắt, em lo lắng quá.


        Tôi thầm nghĩ: “Cô bé này giả dối hay sao? Không biết buồn, sao còn biết lo lắng?”


À, cũng có thể… vì con người ta còn biết lo lắng lúc sợ hãi. Có lẽ sự lo lắng gần với cảm giác sợ hãi hơn cảm giác buồn. Và có lẽ ở xứ này người ta cho phép cảm giác sợ hãi và những hệ quả của nó được lưu hành. Ý nghĩ tàn nhẫn ấy vừa thoáng hiện hình tôi đã tự thấy xấu hổ, vì cô gái trẻ trung kia vẫn líu lo. Cô ta vui thực sự khi thấy tôi được tha.


        - Mới một tuần lễ mà ông đã gày rộc hẳn đi.


        Mi lái tay phải, còn tay trái đưa cho tôi một túi kẹo thơm phức:


        - Ông ăn đi cho lại sức.


(còn tiếp)


Nguồn: Trư cuồng. Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh. Talawas 2005. Bản điện tử do nhà thơ Hoàng Hưng gửi Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »