V. Trở về
Tiếng gì lách rách như tiếng mưa xuân. Mùi gì thoảng thơm như hương ngâu, hương bưởi. Không gian trong ta chuyển từ hồng sang trắng sữa. Cái nóng trong ta vợi tan; hình như có những phẩy gió nam đang lay gọi. Nhẹ nhẹ… Vơi vơi… u oa… ơi ơi… Tiếng thần linh hay ma quỉ? Tiếng quái hay tiếng người? Tiếng thì thào ở trong tôi, tiếng đánh thức, tiếng dẫn nẻo ta đi từ cõi tối trở về với cuộc đời.
- Dậy, dậy đi thôi!
- Tôi đang ở cõi ngục, hay đang trụ nơi cây cỏ và ánh sáng mặt trời?
- Dậy, hãy dậy đi! Sáng tỏ mặt rồi.
- Ai nói với tôi? Hay là…?
- Tôi.
- Tôi là ai?
- Tôi là hiền dịu, là bạn bè, là tình yêu, là hài hoà, là xứ ấm… Tôi là ốc đảo…
- Hãy nói nữa đi. Phải chăng tiếng người? Từ lâu, tôi chẳng được nghe tiếng người.
- Anh vừa lạc từ những khu rừng hoang về; ở đó là rừng tối, núi cao và nhiều dốc đứng. Nhớ nhé đừng đặt chân vào sườn dốc, dù cố ý hay vô ý thức. Bởi vì điểm xuất phát có thể là nhân hậu, tốt đẹp, nhưng điểm cuối cùng của nó là vực thẳm ác độc.
- Hãy tha thứ cho tôi. Từ bao lâu nay, tai tôi, đầu óc tôi đã ù đi, đã mụ mị đi vì những lời mật ngọt. Mật ngọt chăng lưới như thiên la địa võng, đến nỗi làm khô cạn cả lòng tin trong tôi.
- Sao lại nghi ngờ? Hãy mở mắt ra. Đôi mi trĩu nặng lắm sao? Hãy ráng sức mà hé mở, hé nhìn… Đã thấy gì chưa? Một chút mầu xanh xanh vẫn còn đằng trước mặt. Đã nghe thấy âm thanh dịu vợi của nó chưa? Đã hé thấy những sắc mầu thanh thoát của nó chưa?
- Ôi! Xa xôi quá! Chỉ thấy một chấm sao mờ… và chỉ thoáng nghe một âm vang gió động.
- Chính nó đấy. Nó là ốc đảo trong mênh mông sa mạc. Nhưng hãy tin ở nó, bởi vì khi gặp duyên sa mạc khô sẽ trở thành rừng xanh.
- Duyên nằm ở đâu? Sao duyên chẳng đến với bao kẻ đợi chờ? Thú thật, tôi sợ hãi sự đợi chờ.
- Duyên là hạt ngủ. Hạt có thể ngủ hàng ngàn năm mới thức giấc; nhưng hạt cũng có thể nẩy mầm trong giây lát. Duyên cũng là làn gió gieo hạt đi xa. Duyên cũng là máu là mưa tưới sống mầm hạt. Duyên cũng có thể là trái tim phập phồng khắc khoải. Hạt đang ngủ ở kẽ tim, ở những miền tối mờ sọ óc. Hãy nhớ: có ngủ, ắt phải có thức.
- Chao ơi! Tôi mệt lắm rồi. Gân, thịt tôi như nhão ra.
- Cố lên! Hành trình tới ốc đảo còn xa xôi và hiểm nghèo.
- Khéo tôi chết dọc đường.
- Sao lại chết? Anh là tự do; mà tự do thì có bao giờ biết chết.
- Xin cho tôi chút nước.
- Đây, uống đi. Song ít lắm. Hãy uống bằng nhấp môi.
- Chỉ có một giọt thôi sao?
- Rồi mồ hôi sẽ đổ xuống. Có thể cả máu cũng chảy luôn. Nhưng, không sao cả. Một giọt nước sẽ trở thành nghìn triệu giọt.
- Tôi hiểu rồi.
- Thế thì mừng.
- Sao mắt tôi hoa?
- Anh nhìn thấy gì?
- Thấy một đám xanh xanh.
- Từ một đốm sao thành một vạt xanh. Chính nó đấy. ốc đảo đấy. Đúng, nó mầu xanh.
Lòng tôi chợt mát rượi. Ai quạt cho tôi?
- Ốc đảo quạt đấy.
- Tôi thấy đầu óc tỉnh táo, mà miệng như pha vị ngọt. Chẳng thấy khát nữa.
- Phải rồi. Vì ốc đảo là nguồn suối, là giấc mơ, nhưng cũng là có thực. Đừng có bao giờ quên ốc đảo, đừng bao giờ đánh mất ốc đảo …
- Hãy nói nữa đi. Nói thêm cho tôi nghe về ốc đảo.
- Chẳng thấy ai trả lời. Chỉ nghe thấy một thầm thì. Tiếng mưa hay tiếng khóc?… Những giọt mưa thỉnh thoảng rơi trên mí mắt tôi… ấm áp. Ô kìa! Ai mưa khóc trên mặt tôi?…
Tôi mở mắt. Bừng tỉnh. Tôi chợt hiểu, tôi đã trở lại nhân gian.
Một bóng người nhoà nhoà sương trắng. Những đường nét của một khuôn mặt thân quen dần tỏ rõ.
- Anh Hoàng! Anh Hoàng! Anh đã tỉnh hẳn chưa?
Tôi đã nhận ra bộ mặt hiền hậu của vợ tôi. Tôi chợt bồi hồi tiếp nhận những giọt mưa mắt của nàng nóng hổi chảy vào trái tim tôi. Tôi chợt ngửi thấy mùi riêng của nàng, cái mùi thơm hăng hắc của mớ tóc đen, cả cái vị ngọt ngào của đôi vú ấm.
Lúc này tôi hoàn toàn hiểu rõ rằng tôi đang sống thực, rằng tôi đã từ cõi chết trở về. Ba mươi ngày hôn mê, lang thang trong những đêm sương đầy ắp kỷ niệm và những ảo giác. Những phút vừa qua, tim tôi chợt thoi thóp, cơn sốt chợt bùng to. Những đêm sương định kéo tôi về hẳn đất chết. Và vợ tôi đã khóc, đã lay, đã gọi. Nàng áp mặt vào mặt tôi, dùng hơi thở để tiếp sống. Nàng đã ôm tôi vào lòng, để chia xẻ cái ấm áp, sự sống cho tôi. Nàng đã ấp đầu tôi vào lồng ngực, dùng đôi vú mà lay gọi tôi trở về với cuộc đời.
Hãy tha thứ cho anh, cho những giờ cay đắng vì anh. Em là mẹ anh, vì tình yêu giản dị của em đã đẻ ra anh lần thứ hai.
Tôi chợt giật mình, hỏi vợ:
- Cái gì thế, em?
- Anh ngủ đi. Anh hãy nằm im. Chẳng có gì hết cả.
Nàng dỗ dành tôi như dỗ trẻ; nhưng tôi nhắm mắt làm sao được. Tôi đã ngủ suốt một tháng dòng, nên lúc này tôi hoàn toàn tỉnh táo, mặc dù tôi không thể nhấc chân tay lên nổi. Và điều lạ lùng là tai tôi còn thính hơn khi xưa nhiều. Tôi nghe thấy tiếng những giọt mưa rơi rất nhẹ ngoài hiên. Tôi nghe thấy cả tiếng chân chạy của một con chó ngoài đường. Nghe thấy cả tiếng lá cây bên nhà sào sạc. Tiếng sào sạc của vòm lá khế…
Quái! Có tiếng người xì xào. Hình như nghe thấy cả tiếng một thanh sắt liếc vào thành chum nước.
- Người ta liếc dao em ạ.
- Chẳng có gì hết cả. Anh ngủ đi! Ngủ đi.
Nàng choàng chiếc chăn lên đầu tôi. Tôi nghĩ vơ vẩn: ”Hay là mình vẫn còn mê?” Không! Chắc chắn là không! Bởi vì tôi vẫn cảm nhận được hơi nóng của người nàng chạy dài suốt người tôi. Trong chăn kín, tôi chợt nghe loáng thoáng tiếng người: “Chụp ngay vào đầu nó.” Tôi hốt hoảng cố nhoi ra khỏi chăn, và hỏi:
- Chụp cái gì?
Vợ tôi im lặng, không trả lời. Cô ta ôm lấy tôi. Chợt có tiếng kêu vang eng éc… Tôi giật nảy người, căng mắt nhìn lên đình màn đen kịt. Dần dần, tôi liên tưởng, và nhớ lại… Tôi xác định vị trí nơi tôi nằm, rồi chợt nghĩ ra, ở bên kia vách là chuồng con lợn Bò. Có tiếng hồng hộc và tiếng người người khiêng ì ạch. Tiếng một người quen ồ ồ cất lên:
- Bình tĩnh nhé. Cắt ngang chỗ này, rồi thọc dao vào chính giữa, đâm thẳng dao chui vào lồng ngực, sau đó lách nghiêng sang trái. Nó nặng đẫy tạ, khổ mỡ dầy, nên phải đâm thật sâu.
À… Tôi hiểu rồi. Thực chứ không phải mơ. Người ta đang giết con lợn Bò. Và tiếng nói vừa rồi là tiếng Hợi. Tiếng ồ ồ ấy vẫn ra lệnh:
- Quấn dây cao su vào mồm, cho nó khỏi kêu… Xong chưa?… Đừng có run tay… Đâm cho thật chính xác, kẻo rồi dao lại chui vào nách lợn. Tốt!… Tốt!… Cứ như thể… Tiến lưỡi dao về phía ức… Khá lắm! Trúng rồi!… Dao chui vào ngực rồi… Nhích mũi dao sang trái… Về phía tim. Có thể ngoái dao cho đứt hết mọi mạch máu chằng chịt quanh tim… Chúa lắm! Đè mạnh vào chuôi dao, tạo lỗ cho máu chảy ra…
Tôi cứ nằm đờ mà nghe, để cho trí tưởng tượng nhìn thấy cái vóc dáng to ù của con lợn Bò đang giẫy chết, đang co giật. Kìa! Ai thế kia? Ai đang đè đầu con quái Trư? Phải chăng là thằng Linh con trai tôi? Chính nó. Thằng bé toát mồ hôi hột. Tôi trông rõ cả dòng máu từ cổ con lợn Bò ồng ộc chảy ra. Chà, chà! Con Trư Ma Vương! Mày khoẻ thật! Mày đạp bắn cả chú Hợi đang lên gân ráng sức giữ hai chân sau của mày. Nhưng thoát sao khỏi tay chú Hợi. Đột nhiên, tiếng kêu của con lợn Bò lại vang lên inh ỏi. Chú Hợi lại ồ ồ nói:
- Tuột giây cao su buộc mồm rồi. Buộc lại đi, Linh.
Có lẽ thằng con tôi cố gắng buộc lại, nhưng không nổi. Con quái Trư cắn vào tay nó. Thằng Linh cáu kỉnh:
- Thì, mặc mẹ cho mày kêu.
Con lợn Bò kêu vang trời. Tiếng lợn kêu náo động ngõ nghèo, làm cho lũ chó khắp nơi kêu lên như báo động. Tiếng con lợn Bò kêu lên ằng ặc … thê thảm… Hình như căn nhà tôi ở cũng rung rinh theo tiếng lợn kêu.
Rồi đột nhiên, tiếng kêu rộ lên, ré lên… Có lẽ lưỡi dao của con tôi đã thọc thẳng vào buồng tim con quái Trư. Cuối cùng tiếng kêu của con lợn Bò nhỏ đi… chỉ còn là tiếng hồng hộc, hồng hộc nhỏ dần… và cuối cùng là… tắt lịm. Tiếng lợn ngừng kêu làm không gian đang căng thẳng ra, đột nhiên chùng lại. Tiếng những con chó cũng thưa dần và ngừng bặt.
Có tiếng gà gáy. Sắp sáng. Từ nãy, cánh tay run rẩy của vợ tôi vẫn ôm chặt lấy đầu tôi. Đôi cánh tay che chở ấy lúc này cũng dãn ra. Bàn tay run run của nàng đặt lên trán tôi:
- Mình ơi? Mình có sao không?
- Chẳng sao cả.
Vợ tôi thở dài nhẹ nhõm. Nàng lại tiếp tục kéo chăn lên đầu tôi.
Phần 3
Đoạn kết nhật ký lợn
Ngày… tháng…
Suốt một thời kỳ dài nuôi lợn, rồi ốm mê man. Thời kỳ xáo động. Trong thời kỳ đó, lòng tôi như lửa nung. Không gian nhà tôi như lò cháy. Rừng rực. Rừng rực… Con bất đồng với cha; vợ hận thù chồng. Hạt điên rồ có lẽ nảy mầm từ trong xương tuỷ. Trư cuồng! Poóc xi nô ma ni! Lòng tôi, đến lúc này, vẫn thấm đượm những dư vị đắng cay, chua chát của nó.
Trên giường hồi phục, tôi im lặng nằng nhớ lại. Trư cuồng! Sao mày ác độc! Cũng may, ngọn lửa rồ dại của mày vẫn chưa thiêu trụi nhà ta.
Con gà mái nhẩy ổ đẻ cục tác thanh bình. Không gian sống thật êm đềm. Mưa xuân vẫn rí rách. Nghe thấy cả tiếng đàn chim vành khuyên trên cây doi sau nhà. Nghe thấy cả tiếng con quốc gọi nắng về trên vạt rau muống xuân bồng bềnh xanh mướt.
Hầu như đã trở lại thanh bình và hiền hoà. Hết nóng, hết sốt, hết mê sảng. Hết tiếng lợn kêu, lợn rống. Hết những hục hặc, những hầm hè của những con người sống cùng dưới mái nhà. Nhưng, liệu có thật giống vi ruýt điên rồ đã chạy trốn? Vợ tôi đã thịt bán con quái Trư; song liệu giống vi ruýt Trư Cuồng đã rời bỏ ta chưa?
Vừa qua con lắc chạy sang thời kỳ xáo động; hiện nay, con lắc lại quay sang thời kỳ hiền hoà. Rồi tiếp sau đó thì sao? Có thể xao động mãi mãi, hay là hiền hoà mãi mãi? Có thể xáo động kéo dài không ngừng để biến thành một cơn bão. Cũng có thể ốc đảo xanh cứ nhỏ dần, bé dần trước sự tấn công của bão cát, để cuối cùng tất cả biến thành sa mạc. Có thể như thế lắm chứ sao?
Ngày… tháng…
Tôi khoẻ lại thật nhanh. Da thịt tôi trở lại hồng hào rất nhanh. Nhưng có phải tất cả các vở kịch trên đời này đều kết thúc bằng mầu hồng đâu. Trên trái đất, giờ phút này, chắc có cũng nhiều nơi cũng êm ả, cũng thanh bình như ngôi nhà tôi đang ở. Cũng có nhiều da thịt hồng hào trở lại như da thịt của tôi. Nhưng lấy gì để đảm bảo rằng loại bệnh kỳ quái ấy đã chấm dứt. Bệnh ấy là bệnh dịch. Nó tắt rồi lại xuất hiện. Sự độc hại của nó là một độc hại ma quái. Nó biết lột xác, biến hình. Anh Tám chưa kịp nghiên cứu lịch sử, vận động của nó, nhưng tôi tin chắc rằng nó đã trải qua nhiều biến dạng, nhiều thịnh suy kể từ thời nguyên thuỷ.
Tám ơi? Bây giờ anh ở đâu? Anh chết hay sống? Sao chẳng thấy tin anh? Cứ nghĩ đến lần gặp gỡ cuối cùng với anh, lòng tôi như thắt lại. Cuộc gặp gỡ trong giấc mơ nhưng tôi tin là có thật.
Các người ơi, tôi chưa kể đến cái kết thúc bi thảm của chuyến du hành đến Cực Thiên Thai, chưa kể đến lần gặp gỡ cuối cùng với anh Tám. Tôi không muốn nhắc đến vì tôi rất yêu anh; nhưng, nghĩ cho cùng, tôi phải nhắc, bởi vì im lặng tức là đồng loã, tức là tạo điều kiện cho tội ác lộng hành.
… … …
Hôm ấy, người ta xích tay tôi, và giải đến một nhà giam đặc biệt, na ná như nhà giam tử tù. Nó chuyên dùng để nhốt những con người bị xử tội nặng nhất. Nói rằng na ná, vì ở đây không bao giờ người ta xử tử tù nhân; xứ Vui rất hãnh diện vì đã xoá bỏ được hình phạt xử tử. Sách báo quảng cáo điều này rùm beng.
Người ta tháo còng cho tôi, và đẩy tôi vào một căn phòng mênh mông. Căn phòng tối mờ nên phải vài phút sau tôi mới nhận rõ được xung quanh. Đó là một căn phòng trống, sạch sẽ đến rợn người. Trần nhà, tường nhà đều sơn trắng, nền lát gạch men trắng. Mầu trắng toát làm ta lạnh đến xương tuỷ.
Còn đang choáng trắng, tôi bỗng nghe thấy một giọng nói cất lên, từ cuối phòng xa tít:
- Hoàng đấy phải không?
- Ai gọi tôi?
- Tám đây.
Tôi chăm chú nhìn về phía tiếng gọi, và chợt thấy một chiếc hòm, có lẽ một chiếc tủ thì đúng hơn. Tôi lại gần chiếc tủ được bưng kính xung quanh ấy. Tôi rất ngạc nhiên vì thấy một con người kỳ quái ngồi trong tủ kính. Lạ thật! – Tôi suy nghĩ – Không phải là Tám; một con khỉ hoặc một con đười ươi biết nói thì đúng hơn. Tiếng cười quen thuộc lại vang lên:
- Không nhận được ra tớ sao?
Tôi nhìn kỹ. Thân hình đúng là mình mẩy một con khỉ, nhưng chiếc đầu lại đúng là đầu Tám. Mớ tóc dài, râu ria xồm xoàm. Tôi chợt nhớ ra, lúc gặp Tám ở phòng thí nghiệm, Tám bảo tôi anh phải cải trang để khỏibị nhận dạng. Tôi hỏi to:
- Đúng là anh Tám vậy sao?
- Vâng. Anh trông tôi kỳ quái lắm phải không?
- Làm sao đến nông nỗi này? Hay là họ đã tiêm thuốc để thân thể anh mọc lông mọc lá?
- Anh trông người tôi giống một con khỉ?
Tôi không trả lời. Còn Tám lại cười một nụ cười cay đắng:
- Còn hơn sự tưởng tượng của anh. Đúng, từ cổ trở xuống là thân hình của một con vượn người. Chỉ riêng cái đầu lâu là của Tám thôi.
- Tức là… họ làm một phẫu thuật, cắt đầu của anh ghép vào mình con khỉ?
- Ha ha… Đúng là họ không giết tôi. Họ đã chặt đầu tôi, nhưng vẫn cho cái đầu ấy sống ở trên thân thể một con vật. Họ muốn biến tôi thành một thứ nửa người nửa khỉ. Họ thí nghiệm xem, với một thứ người hỗn hợp như vậy, đầu óc tôi có thay đổi … tức là có cải tạo được không. Thí nghiệm được tiến hành từ ngày họ bắt tôi với anh. Anh xem cái băng dính trên cổ tôi vẫn chưa được tháo, vì vết ghép chưa liền hẳn da. Tôi được nuôi trong cái lồng kính này, tức là một môi trường vô trùng tuyệt đối, và ở những điều kiện sống nhân tạo tối ưu. Ha ha…
Tôi rợn gáy vì tiếng cười của Tám. Chợt anh nhăn nhó, giơ bàn tay lông lá lên ôm lấy cổ. Có lẽ anh cười to quá làm động đến vết nối. Tôi thấy nước mắt anh chảy ròng ròng. Đột nhiên, tôi phản xạ, sờ tay lên cổ. Có lẽ tôi khiếp hãi chăng. Tám lắc đầu nói nhỏ:
- Anh không lo. Tội anh chưa được mức hưởng loại thí nghiệm kỳ quái này đâu.
- Nghĩa là ngoài những câu nói ở phòng thí nghiệm, anh còn làm những điều khác mà A1 cấm đoán? Anh làm điều gì vậy?
- Tôi làm giặc.
- Anh làm giặc sao nổi. Anh hiền lành…
- Nói cho đúng hơn, họ đã kết tội tôi làm giặc, vì tôi đã tiến hành một công việc hết sức hiền lành. Có thể nói đó là một công việc nhân đạo.
- Anh đã làm gì?
- Tôi đã tìm ra một thứ thuốc nhỏ mắt để phục hồi lại tuyến lệ cho con người ở đây. Vì, tôi cũng như anh, chúng ta đều phẫn nộ khi thấy con người thèm khát nước mắt mà không biết khóc. Thuốc của tôi đã làm cho hàng vạn con người lấy lại được nước mắt.
Tôi buồn rầu:
- Việc anh làm tốt đẹp, nhưng cực kỳ nguy hiểm.
- Và đã xảy ra cuộc diễu hành Nước – Mắt của ba vạn người trước lâu đài Bất Tử. Anh thử nghĩ xem: có tới ba vạn con người Nước Mắt, rồi có thể đến lúc nào đó sẽ có tới hàng chục vạn con người Nuớc Mắt. Nước mắt sẽ ngút trời. Nó có thể làm rung rinh lâu đài đá hoa. Sau cuộc diễu hành Nước Mắt ấy, cái gì sẽ diễn ra ở đáy sâu hộp sọ con người … Biết đâu đấy, có thể giông bão cũng nên. A1 hiểu điều đó nên đã thẳng tay đàn áp. Hắn đã cho bắt gọn ba vạn Con người - Nước mắt và tiến hành một thí nghiệm chưa từng có. Hắn đã tổng tiến công vào bộ não. Tiêm thuốc vào não; cắt ghép những bộ phận của não; thậm chí thay thế não người bằng não khỉ…
- Một điên rồ chưa từng thấy.
- Những chuyên gia cho rằng bước đầu thí nghiệm đã thành công. Lũ Người – Nước – Mắt đã biến thành một lũ Người - Ngoan. Tuy vậy người ta còn tiếc rẻ vì hai phần ba số người thay não bằng não khỉ đã không chịu được.
- Nghĩa là đã có hàng nghìn người chết sau khi thay não.
- Không có ý nghĩa gì với A1. Những xác chết còn tươi ấy lại được dùng vào những thí nghiệm khác. Ở Cực Thiên Thai có một trung tâm nghiên cứu thuốc bổ dưỡng; nguyên liệu của nó là các phủ tạng người và thịt người. Có loại thuốc quí nhất dùng riêng cho A1 được gọi là viên trường sinh có khả năng cải lão hoàn đồng.
- Những viên thuốc mầu xanh đựng trong hộp ni lông mầu hồng?
- Chính những viên thuốc đó. Tôi có thể liệt kê cho anh vài thứ quí dược kiểu ấy: Cao xương người (được giới thiệu còn tốt hơn cao hổ cốt), Phi-la-tốp thai nhi (lấy từ thai của các bà đẻ), Hê-pa-phốt gan người, tinh chất giáp trạng, tinh chất thượng thận, Phi-la-tốp não người, Phi-la-tốp tuỷ sống … Nhưng các ngài tai to mặt lớn thích nhất hai loại biệt dược: nước ép tinh hoàn và nước ép buồng trứng người.
- Thôi, thôi… Xin đừng nói nữa.
- Anh không tin lời tôi sao? Theo cách lập luận ở đây: người thượng cổ thích ăn thịt người; sau đó đến một thời kỳ dài việc ăn thịt người bị cấm; theo phép biện chứng, cuối cùng con người lại trở về thói ăn thịt người nhưng ở một trình độ cao hơn. Tức là xác những người chết sẽ được kỹ nghệ chế biến thành thức ăn, thành thuốc. Con người ăn thịt người một cách gián tiếp. Họ cho rằng đó là một vòng tròn khép kín không lãng phí về mặt kinh tế. A1 khinh thường Hít le vì tên này hiểu biết quá sơ sài về mặt kinh tế. Thiêu xác người dùng làm phân bón cũng là kinh tế, nhưng việc sử dụng kinh tế ấy quá thô thiển và lãng phí. A1 cho rằng trong tương lai, mọi xác người chết đều phải được tái sản xuất, để trở thành thức ăn, thuốc bổ cho người sống. Phương hướng đó nhằm giải quyết nạn thiếu thức ăn. Tương lai, nền công nghiệp thực phẩm thịt người sẽ là công nghệ tinh vi nhất, phồn thịnh nhất.
- Thôi! Ngừng lại! Tôi buồn nôn quá rồi.
- Đừng vì buồn nôn mà làm ngơ, không dám nói. Con người đang quay trở về Mông Muội. Ngày xưa, người ta ăn thịt người còn ở một phạm vi hẹp và lén lút. Bây giờ, ăn thịt người biến thành một kỹ nghệ. Mới đầu người ta còn buồn nôn khi ăn thịt người, nhưng dần dần việc dó sẽ thành quen. Mới đầu người ta còn thờ ơ, sau đó người ta sẽ thích thú với chuyện đó. Vì vậy ta cần phải giữ cái phản xạ buồn nôn khi nghĩ đến ăn thịt người, và phải giữ phản xạ ấy kéo dài mãi cho đến ngày cuối cùng của loài người.
- Có tiếng máy chạy sè sè. Cái lồng kính nhốt Tám bỗng từ từ được nâng cao, kéo lên trần nhà. Tám cúi đầu, cố dặn với xuống:
- Họ đưa tôi đi làm thử nghiệm lần cuối, xem đầu óc tôi có thay đổi chút nào trên cái thân xác khỉ này không.
- Nếu không thì sao?
- Thì họ sẽ đục não tôi ra, và thay thế bằng một bộ não khỉ.
- Anh Tám. Anh Tám…
Tôi kêu to, gọi theo, nhưng chiếc lồng kính đã chui tụt vào trần nhà. Chung quanh tôi, lúc này chỉ là một mầu trắng bơ vơ.
- Anh Tám. Anh Tám.
Tôi cúi đầu, ôm mặt nức nở. Rồi sau đó số phận anh Tám ra sao? Tôi không đủ can đảm để hồi tưởng tiếp.
Ngày… tháng…
Đêm qua, tôi toàm mê thấy cái đầu lâu máu me của Tám. Tôi mê sảng gọi Tám nhiều lần. Vợ tôi sợ hãi ôm lấy tôi mà khóc. Cô ấy sợ vẫn còn bệnh. Tỉnh dậy, tôi thấy toàn thân lạnh toát. Tôi thở dài. Vợ tôi hỏi:
- Có chuyện gì?
Tôi không trả lời, nhưng trong lòng rầu rĩ. Tôi tin chắc rằng đã có chuyện gì đó xảy ra với Tám. Không hiểu sao, tôi cứ một mực tin rằng những chuyện xảy ra trong giấc mơ là hoàn toàn có thật.
Con trai tôi đã chọc tiết con lợn Bò, con Trư Ma Vương, nhưng liệu con quái ấy đã chết thật hay chưa? Ồ, mà sao ta thật ngây thơ. Ở đời này, có biết bao nhiêu chú lợn Bò. Giết con này sẽ còn con khác. Cứ nghĩ đến điều đó, lòng tôi lại thêm rầu rĩ.
Ngày… tháng…
Nghe tin tôi khỏi bệnh, Lân đến thăm. Tôi vui mừng bám lấy Lân để hàn huyên, kể lể, tâm sự, cứ như thể xa cách hàng năm. Lân nhận xét:
- Đúng thời gian anh ốm, Tám cũng đi đâu mất. Tôi đến nhà mấy lần, chỉ thấy đóng cửa im ỉm. Chẳng có lẽ…
- Có lẽ gì nữa. Thật huyền hoặc, nhưng tôi tin chắc Tám cũng vừa trải qua một cuộc du hành. Anh ấy đi tìm tôi trong giấc mơ, và đã gặp tôi trong xứ Vui. Anh ấy đến để hỗ trợ tôi, giúp đỡ tôi. Điều đó đúng với tính cách của Tám.
- Sao lại giúp đỡ?
Câu hỏi đột nhiên làm làm giấc mơ dĩ vãng lại tái hiện trong óc tôi rõ mồn một.
- Đáng lẽ người ta cũng đưa tôi đi mổ não, thay một bộ phận não bằng bộ phận não khỉ. Tôi ngồi trong căn buồng trắng suốt ngày ôm đầu lo lắng. Chính lúc ấy, anh Tám trở về với tôi. Khi bị thẩm vấn lần cuối để xác định xem đã thay đổi tư tưởng chưa, Tám trở nên ngớ ngẩn. Người ta dùng hết mọi biện pháp khoa học (như điện não đồ, soi đáy mắt, test tâm lý, test ngôn ngữ, tìm phản ứng trong tình trạng stress…) để kiểm tra bộ não thực sự của Tám ra sao. Cuối cùng, người ta đã đày Tám lên rừng; họ nghĩ rằng máu huyết của cái thân xác khỉ kia đã biến đổi anh thành giống Người – khỉ thực sự. Song họ đã lầm. Tám đã đánh lừa được họ; đầu óc anh vẫn tỉnh táo. Và chính nhờ vào cái chân, cái tay khỉ ấy, Tám đã có thể nhẩy chuyền trên những cây cao, tìm về nhà giam cứu tôi. Tám đã cõng tôi trên lưng, leo cây, trở về rừng. Anh đã chỉ cho tôi biết con suối sương mù, con suối chảy mấp mé giữa bờ sống và bờ chết. Tôi đã lội ngược theo con suối ấy, tìm đường trở về cõi nhân gian.
- Thật huyền hoặc. Nhưng …
- Nhưng sao?
- Nhưng rất trùng khớp.
- Trùng khớp cái gì?
- Tám cũng vừa mới trở về.
- Sao anh chẳng mời Tám đến chơi tôi? Tôi muốn gặp anh ấy quá. Tiếc rằng tôi chưa khoẻ hẳn để đến nhà anh ấy.
Lân rầu rĩ tiếp:
- Anh ấy trở về với chiếc ba lô bộ đội sờn rách trên vai. Song, anh ấy chẳng đến đây được nữa.
- Sao?
- Tám đã mất trí.
Tôi kêu to:
- Trời ơi!
- Suốt ngày Tám chỉ leo cây. Phải chăng trong cơn điên, Tám lặp lại công việc của một con khỉ? Chẳng có lẽ. Bởi vì, trước kia trong bộ đội đặc công, Tám chuyên làm công tác trinh sát từ trên cây cao. Tám leo trèo rất giỏi.
Ngày… tháng…
Nhắm mắt, bóng Tám hiện ra. Mở mắt, bóng Tám vẫn hiện ra.
Hình ảnh ấy là một phẫn nộ, một tố cáo, hay một cuộc tra hỏi không nguôi?
Bóng dáng ấy, có đêm đứng giơ tay lên trời, và rì rầm kêu gọi:
Poóc xi nô ma ni
Anh đứng giữa đêm đen, đầu ngật ngưỡng lắc lư, bơ vơ như một nhà tiên tri, chuộc lỗi cho thế gian. Hình ảnh ấy có vẻ ma quái, nhưng vơi nhẹ lòng người.
Thật hay mơ? Dù là một giấc mơ thì cũng là một niềm an ủi. Bởi vì, chưa thấy một con đường, nhưng ít ra cũng thấy một con người gánh chịu. Bởi vì chưa thấy một Thích Ca, nhưng đã thấy một Bồ Tát, đã thấy một luân hồi đội đá phù sinh.
Ngày… tháng…
- Anh Tám! Anh đang nói gì với tôi vậy? Hãy nói to thêm chút nữa cho tôi nghe rõ.
- Anh nói rằng: Tất cả đều phụ thuộc vào duyên.
- Duyên là gì?
Tôi hỏi to, nhưng bóng Tám lại biến đi.
Ngày… tháng…
- Anh Tám! Sao anh lại ngồi thẫn thờ tư lự?
- Anh Tám! Sao anh không nói? Hãy đối thoại với tôi đi.
- Anh Tám! Sao tôi hỏi, anh cứ lặng im? ừ, mà có thể tôi đã hiểu. Trời ơi! Hồn ma mà cũng mệt mỏi. Cả đến Tiên, Phật chắc lúc này cũng có thể rã rời.
Ngày… tháng…
- Hồ Ly ơi! Hồ Ly ơi! Mi ơi!
Ta gọi tên em như một tiếng nhạc mà cứ ngỡ gọi tên một loài hoa thơm ngát. Giờ này em ở đâu? Ta chợt rùng mình khi nghe tiếng em thất thanh.
- Hoàng ơi! Hoàng ơi!
Ta chợt nhìn thấy em đầm đìa nước mắt, rẫy rụa trong lâu đài đá hoa, cái đẹp diễm kiều bị chôn trong một nấm mồ nhung lụa.
Hồ Ly ơi! Cái đẹp của ta ơi! Nước mắt của ta ơi! Họ đã giết mất em rồi chăng? Ta vẫn thấy bàn tay mềm mại của em chới với. Ta không tin, dù một kẻ sát nhân gớm ghiếc đến thế nào cũng chẳng dám giơ dao đâm vào trái tim ngọc ngà của em.
Anh van em đấy. Hãy hiện hình ra đi. Để anh lại cầm tay em, cô Hồ Ly xinh đẹp của anh, đem trả lại cho Tây Hồ, trả lại cho mặt nước sương mù. Và để em lại ban cho anh một chiếc hôn thầm vơi nhẹ.
Nàng hiện ra như một đám mây xa vời, như một ảo ảnh. Người đi trong sa mạc, dù tìm thấy một ảo ảnh, cũng vẫn có niềm an ủi. Bởi vì còn ảo ảnh, chân ta còn bước. Ta chỉ sợ đến lúc, trên thế gian này, ảo ảnh rồi cũng tắt.
Ngày… tháng…
Vợ tôi hỏi:
- Anh Hoàng! Sao đêm đêm anh vẫn thở dài? Anh rì rầm với ai trong giấc ngủ? Anh tỉnh lại rồi hay vẫn nằm mơ? Anh khỏi bệnh hay còn điên dại?
Tôi không trả lời. Và vợ tôi khóc:
- Hay anh hãy còn giận em?
Tôi ôm lấy đôi vai gầy guộc rung rung của nàng. Và trong tay người đàn bà, tôi chợt quên đi vũ trụ.
Ngày… tháng…
Tôi đã đứng dậy nổi một mình, đã đi được quanh quẩn trong nhà ngoài sân.
Sức khoẻ tôi dần dần bình phục. Và bóng dáng của Tám cũng dần dần thưa thớt, ít hiện về.
Ngày… tháng…
Tôi đã bình phục hẳn.
Giấc mơ dài mà tôi vừa trải qua cũng chìm dần vào ký ức. Chỉ còn dư đọng lại trong tôi lúc này một cảm giác buồn buồn vô hình, vô ảnh.
Từ khi ốm dậy, tôi không ngó đến cái chuồng lợn mà mấy tháng trước, ngày nào tôi cũng túc trực say mê. Tôi cũng chẳng buồn nhắc đến tên những con lợn Bò, lợn Lang, lợn Ỉn … những con vật đã cùng tôi tham dự vào một chuyến phiêu lưu.
Hay là sự thoát chết, sự sống lại đã biến tôi trở thành nhút nhát, trở thành kẻ sợ hãi đến cả những kỷ niệm.
Ngày… tháng…
Thằng Linh ở trường đại học về. Mỗi tuần lễ thằng bé về nhà một lần. Có mặt nó, căn nhà bỗng sôi nổi hẳn lên. Lại thấy tiếng đàn, tiếng hát. Lại rộ tiếng cười. Lại thấy sự sống nhộn nhịp đánh thức cái mơ màng của căn nhà dưỡng bệnh.
Từ khi tôi khỏi bệnh, hai cha con tôi chưa nói chuyện với nhau hôm nào. Có thể thằng bé tránh nói chuyện với bố; nó không muốn có một xung đột tư tưởng giữa hai cha con, trong khi tôi còn chưa khoẻ hẳn. Tôi phải chủ động gợi chuyện trước. Hai cha con ngồi bên bàn nước trà. Tôi hút điếu thuốc lào rồi hỏi:
- Tháng vừa qua, bố ốm, gia đình ra sao?
- Chẳng có gì lạ bố ạ.
- Cậu lại né tránh rồi. Xin nói, tớ đã khoẻ hẳn rồi. Cậu cứ nói thật. Chẳng ngại gì sức khoẻ của bố.
- Bố muốn hỏi con về đàn lợn chứ gì? Bố vẫn chưa hết cơn say mê nuôi lợn ư?
Tôi cũng nói đùa theo:
- Cơn bão, trước khi tan, cũng còn dư lại vài cơn gió giật, nữa là cơn lợn… Hãy còn một chút dư âm đấy Linh ạ.
Linh cúi đầu nói nhỏ:
- Con giải tán cả đàn. Bố ốm, gia đình túng bấn. Mấy con lợn ỉn chưa hết lớn, phải bán cho người ta nuôi tiếp. Còn con lợn Bò, hôm nọ con phải giết thịt, bán lấy tiền trả nợ và bồi dưỡng cho bố.
Tôi thở dài:
- Hoá ra công cốc. Tiền lãi chăn lợn chỉ đủ để nuôi tôi ốm. Mẹ con cậu phải khổ sở vì tôi.
- Biết làm sao khác được. Bố nghĩ ngợi mà làm gì. Chỉ cốt bố khoẻ hẳn.
- Rồi thì ra sao nhỉ? Hôm qua tao thấy mẹ con mày thì thầm tính toán tiền nong. Nghe lõm bõm, chỉ riêng cái khoản mua giấy bút cho anh em mày đã lên tới trên trăm đồng.
- Mớ rau muống hôm nay còn giá ba đồng. Cái gì cũng đắt… Chính vì vậy nên…
Tôi ngẩng đầu nghe Linh, nhưng con tôi cứ ngập ngừng mãi. Tôi bảo:
- Anh định ý kiến gì? Cứ nói.
Vẻ mặt con tôi trở nên nghiêm trang:
- Chính vì vậy nên, con quyết định đi mổ lợn.
- Anh làm đồ tể?
- Vâng, đồ tể.
Tôi đột nhiên im lặng. Con tôi nhìn tôi thăm dò. Nó có vẻ lo lắng nhưng quyết tâm thuyết phục tôi:
- Con sẽ đi theo chú Hợi làm thêm buổi sáng. Cứ giết mỗi con lợn xong cũng được hai chục bạc. Con đã thử tay nghề lần đầu. Con đã tự tay chọc tiết con Lợn Bò hung dữ, nặng trên một tạ…
Tôi vẫn yên lặng. Trước kia, tôi phản đối đề nghị ấy của Linh; bây giờ tôi cũng không bằng lòng. Song nói thế nào với con tôi nhỉ? Mỗi thế hệ có cách nghĩ, cách giải quyết riêng của mình. Thằng Linh vẫn kiên quyết trình bầy:
- Cả thế giới, bao nhiêu là đồ tể…
Tôi lắc đầu:
- Đừng dùng số lượng để áp đặt với bố…
- Thế giới hiện đại hoang dã, mà cha vẫn khư khư…
- Con tôi cuồng nhiệt quá. Con nên nhớ rằng, một ông thày tu cuồng nhiệt sẽ dễ dàng biến thành kẻ sát nhân. Bước nhảy đó rất gần.
- Biện luận mà làm gì hở cha. Bởi vì thực tiễn đang cần một giải đáp. Mà cha lại không có lời giải đáp…
Tôi lại cúi đầu im lặng. Con tôi đã hiểu cái thâm cùng của vấn đề.
Giải đáp ư? Thực ra, cái bóng mờ gày guộc của Tám, đầu lắc lư, tay dang rộng, vẫn chỉ là một tra hỏi khôn nguôi.
Nhưng, cái khác là ở chỗ nào nhỉ? Có lẽ ở chỗ: một đằng thì tìm về cội nguồn, còn một đằng thì khát khao cụ thể. Biết nói với con tôi bây giờ ra sao? Dù sao, những ý nghĩ của tôi vẫn chỉ là những tia sáng mong manh yếu ớt.
Con tôi cầm cây ghi ta. Tiếng đàn không lời. Tiếng đàn nói về những vì sao, những cánh chim, những phẫn nộ và ý chí không biết mệt mỏi. Tiếng đàn cuồng nhiệt rủ ta cùng tham dự. Tham dự một vũ hội cùng những với bước nhảy, những lắc lư làm ta hoa mắt; với những nhún nhẩy làm ta ngất ngây, với những tiếng cười phá, tiếng hò la làm rung rinh Ngân Hà. Tiếng đàn của Lý Bạch, hay tiếng trống rung của một bộ lạc châu Phi.
Tôi tần ngần:
“Vũ trụ chẳng có đường mòn. Thế kỷ hiện đại hiếm những con đường thẳng. Chỉ thấy những nẻo đường ngoắt ngéo.”
Ngày… tháng…
Tôi đi tìm Tám. Tôi dạo bước khắp phố phường Hà Nội. Chân tôi đếm vỉa hè; đầu tôi ngẩng lên nhìn các lùm cây.
Hôm kia, người ta bảo có một người điên, mặc quần áo bộ đội, lưng đeo ba lô, suốt ngày leo cây ở vùng chợ Bưởi. Tôi đến chợ Bưởi, dân chợ bảo rằng đó là anh bộ đội đặc công đã đứng tuổi, chỉ đi tìm những cây cao mà leo trèo. Hình như anh ta đang tìm kiếm một cái gì đó. Khi leo lên ngọn cây, bao giờ anh cũng khum tay, giả làm ống nhòm nhìn ra xa tít. Anh ta hiền lành. Những bà mẹ quê đi chợ rất thương anh, thường mua quà cho anh ăn. Tôi băn khoăn: “Biết tìm anh ở đâu bây giờ?”
Một bà cụ già khôn ngoan bảo:
- Hãy tìm đến những nơi có cây cao. Anh ta ưa sống trên những cây đại thụ. Tối qua, anh ngủ trên trạc ba cây đa làng Bưởi.
Anh Tám ơi! Hà nội có biết bao cây cao. Lúc này, anh đậu ở cây nào? Trong giấc mơ, anh đi tìm tôi cứu giúp. Lúc tôi tỉnh, sao chẳng thấy anh về? Tôi đã tìm anh trong vườn Bách Thảo, nhưng chỉ thấy những vòm đại thụ sì sào. Lại đến cả Văn Miếu tìm anh trên những ngọn muỗm già, nhưng chỉ thấy những tán lá xanh câm lặng. Chân tôi bước quanh Hồ Gươm, chợt thấy mình ngớ ngẩn, bởi vì ở đây chỉ nhiều giống thướt tha, những cây Liễu yểu điệu buông tơ, những cây Phượng đỏm dáng thấp tè soài mình soi bóng. Tôi biết anh sẽ không thèm đặt chân leo những cây này. Tại sao anh phải tìm đến những cây cao, bởi vì trên đó anh có thể nhìn rất xa, có thể phát hiện ra những điều anh thấy. Có phải thế không anh?
Tôi đến vườn hoa Pasteur vì nghĩ anh có thể leo trên ngọn những cây cọ châu Phi thẳng tắp. Đến nơi, bọn trẻ cho tôi biết, anh đang leo trèo trên những ngọn cây sao đen hùng vĩ cao vút trời Lò Đúc.
Tôi mừng vui hối hả đến nơi.
Người lớn, trẻ con xúm đông, đầu ngẩng nhìn anh ở trên ngọn cây cao chót vót. Người ta giải thích, anh bộ đội đặc công điên rồ đang tìm giặc Mỹ.
Tôi như muốn khóc. Chỉ có riêng tôi đã biết rằng họ đã khoét óc anh, đã cướp mất của anh một bộ óc diệu kỳ, và chỉ để lại cho anh một hình hài vượn khỉ. Trên đời này chẳng có ai biết điều đó, ngoài tôi.
Tôi gọi to:
- Anh Tám ơi! Anh Tám ơi!
Anh Tám chẳng nghe thấy tiếng tôi, bởi vì tay anh còn khum khum, mắt anh còn tập trung tìm kiếm. Chiếc kính thần anh còn giữ hay không? Phải chăng anh đang truy lùng? Phải chăng anh đang phát hiện những con lợn Bò quỉ quyệt? Chúng đông hay ít? Chúng ở đâu? Anh còn thấy chúng ẩn náu trong những túp lều rách nát, hay chúng đã chễm chệ ở những lâu đài tráng lệ?
Tôi lại kêu to:
- Anh Tám ơi! Anh Tám ơi!
Có lẽ anh đã nghe thấy tiếng gọi; nhưng anh khoát tay ra hiệu “im đi”. Có lẽ anh đã tìm ra được một điều gì. Anh hô to:
- Đồng bào chú ý!
Rồi anh rướn đầu lên để nhìn cho rõ. Sau đó, anh lại hô to:
- Bọn chúng đã đến. Đồng bào nằm xuống!
Một người nói vào tai tôi:
- Anh ấy đã phát hiện ra giặc.
Nhưng tai tôi ù đi, bởi vì anh hô xung phong, rồi anh vung tay làm động tác ném lựu đạn. Sau đó, anh nhảy ào lên phía trước…
Mọi người đều thét lên thất thanh, nhìn bóng Tám đang bơi trong không gian.
Anh Tám đã ngã xoài trên mặt đường, hai tay giang rộng. Tôi xô lại, quì xuống, ôm lấy anh.
- Tám ơi! Tám ơi!
Tám im lìm, máu trào bên mép. Nước mắt ròng ròng, tôi lay gọi:
- Tám ơi! Tỉnh lại đi … Hoàng đây … Hoàng đến với anh đây… có nghe thấy không?
Đôi mắt Tám cố hé ra. Đôi mắt ấy đã nhận ra tôi. Miệng Tám lẩm bẩm một điều gì rất nhỏ. Người xung quanh chẳng ai hiểu cả. Nhưng riêng tôi, chỉ nhìn những chuyển động của môi anh, tôi hiểu Tám muốn trăng trối cái điều đã bao lâu làm trái tim anh thao thức, phập phồng, khắc khoải:
Poóc xi nô ma ni!
Poóc xi nô ma ni!
Poóc xi nô ma ni!
Hà Nội,1981-1982
NXK.
CHÂU DIÊN
Trư cuồng của Nguyễn Xuân Khánh
Tôi mới đọc xong hai tập nhật ký bất hủ, một của nữ bác sĩ liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm, một của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc. Trải những ngày đọc nhẩn nha, tôi đã nhiều lần lau nước mắt. Tôi đã mua mấy bộ tặng những đứa cháu nội và ngoại nào đã qua tuổi 17. Và một bộ riêng tặng con gái năm nay 45 tuổi.
Vì sao lại dài dòng những điều đó trước khi giới thiệu tác phẩm của tác giả Hồ Quý Ly có cái tên ngồ ngộ Trư cuồng? Vì bản thảo Trư cuồng đã ở trong ngăn bàn của tác giả từ năm 1982 và đã bị các nhà xuất bản từ chối, những nhà xuất bản tiến bộ và sắp tiến bộ, đổi mới và chưa đổi mới hẳn.
Như trường hợp nhà xuất bản Đà Nẵng thì có thể thông cảm. Vì năm 1988, nhà này đã in tiểu thuyết Miền hoang tưởng của Nguyễn Xuân Khánh. Sau vụ đó, biên tập viên bị kỷ luật phải chuyển công tác. Nhiều người lao đao khi có nhà văn viết bài phê phán và gợi ý đưa tác giả ra toà. Cũng gặp một vài điều may mắn, nếu không nguyện vọng của nhà văn cách mạng kia sẽ thành sự thật.
Những nhà xuất bản khác đều dùng món võ muôn thuở mà Tây họ gọi là complot du silence, một cách trung dung ta nói là võ phớt lờ còn nếu tích cực hơn thì bảo đó là võ vô cảm hoặc võ im lặng dễ sợ. Vô số người Hà Nội đã chuyền tay nhau đọc Trư cuồng ở dạng viết tay. Nhằm tước cái vũ khí phớt lờ, tác giả Trư cuồng gửi bản thảo đến Hội Nhà văn Việt Nam, như thể để dự thi tiểu thuyết 2004-2005. Cốt tạo cớ cho mọi việc được công khai, minh bạch. Khen chê gì cũng được, nhưng thanh thiên bạch nhật. Nhưng làm sao mà địch lại được!
Và thế là số phận bản thảo lại rơi vào im lặng. Song, bây giờ đã là thế kỷ 21. Là thời a-còng. Nhưng tác giả là người mãi năm 2002 mới có điện thoại để bàn, chẳng biết cách a-còng tác phẩm của mình tới xó xỉnh nào. Tôi đã thuyết phục người dị ứng với kỹ thuật hiện đại ấy để tôi chuyển bản thảo giúp anh đến talawas. Vì thế mà có lời giới thiệu này. Và tôi sẽ trịnh trọng nói rằng tác phẩm Trư cuồng của Nguyễn Xuân Khánh xứng đáng được yêu như tôi đã yêu nó, và yêu song song với các tác phẩm của hai bạn trẻ tên là Trâm và Thạc, những tâm hồn lớn đã đem lại những xúc động ghê gớm trong lòng tôi.
Nguyễn Xuân Khánh cùng lứa với tôi và mấy anh em thích viết văn khác, như Bùi Ngọc Tấn, Dương Tường, Lê Bầu, Vũ Huy Cương… những người đã trải qua cuộc kháng chiến thứ nhất trong vai trò chưa đến mức anh hùng nhưng ít ra cũng là rất tích cực. Tích cực và trong trắng và lãng mạn. Bùi Ngọc Tấn và Lê Bầu đến thời Hội nghị người viết văn trẻ năm 1959 vẫn còn chưa biết uống rượu. Thế hệ ấy tin tưởng thật lòng vào nhiều điều mà những thế hệ sau này già dặn hơn họ sẽ thấy rất khó tin. Thế hệ ấy chăm học vô cùng, nhiều năm ròng họ dường như ăn nghỉ ở Thư viện quốc gia hoặc Thư viện khoa học Trung ương. Và học cả ở cuộc đời thực, mấy con người vừa nhắc qua ấy, sau này tuy không được đi phục vụ nơi chiến trường xa, nhưng họ vẫn tìm cách bám những vùng chiến tranh ác liệt, như một công việc, như một nghĩa vụ, và trong lòng họ đều nghĩ đó là cơ hội chia sẻ vô cùng ít ỏi với đồng bào và chiến sĩ.
Thế mà mấy người đó lại gặp hạn về chính trị! Vì họ quá ngây thơ. Khi Bùi Ngọc Tấn cất tiếng kể chuyện vào đầu năm 2000, thì trong cuốn tiểu thuyết đầy những điều không bịa đặt của anh đã có mặt nhiều bè bạn cùng hội cùng thuyền được anh bịa tên cho. Một vài Bùi Ngọc Tấn đi trại, còn lại chẳng anh nào thoát khỏi thẩm vấn, nghi ngờ. Điều đau lòng cho họ, ấy là họ vẫn yêu nước, vẫn lao động cật lực, vẫn thực lòng tôn thờ những giá trị dân tộc và nhân loại. Đó là một lớp trí thức mới, nhưng mới theo một kiểu khác. Họ không được đào tạo qua loa để có học vị, họ tự học và học thực sự. Họ không dùng học vị để chạy đua leo cao, họ chỉ có một niềm vui: sống, và viết văn, làm thơ. Trong bọn họ có nhiều người bị ganh ghét, nhưng không ai công khai lôi ra nổi ở họ điều gì gọi được là sự xấu xa. Thật dễ hiểu khi ta thấy họ chuyền tay nhau bài viết cuối cùng của Louis Aragon trên số báo Les Lettres Francaises cuối cùng trước khi đình bản, ở đó có lời tâm sự cuối cùng, j’ai gâché ma vie, c’est tout (“Tôi đã phung phí cả cuộc đời mình, có vậy thôi”).
Có vậy thôi, Nguyễn Xuân Khánh phải về hưu non và trước khi bị khai trừ Đảng anh phải tìm cách sống. Anh nuôi lợn. Trên cương vị bí thư chi bộ đường phố, anh đã đưa nước máy về cho cả xóm, đường làng Thanh Nhàn lầy bùn được lát gạch tinh tươm. Khi cấp trên cử người xuống đọc lệnh khai trừ anh, cả chi bộ ngơ ngác. Điều thú vị ở một người có tư chất nhà văn, ấy là họ làm gì và sống thế nào thì cũng là cơ hội cho những cảm hứng văn chương. Thì anh viết văn kể chuyện nuôi lợn. Nuôi lợn như một người mắc bệnh-điên-nuôi-lợn để có thể thủ thỉ nói với lợn những tâm tư sâu lắng. Vì thế mà sách có tên là Trư cuồng. Trước cửa nhà anh còn có một cái cống của thành phố. Cái cống đó gợi hứng cho anh viết Suối đen. Trong cuốn tiểu thuyết về những người điên nuôi lợn thấp thoáng nhiều bạn của anh với những nhân cách rõ rệt. Còn trong cuốn tiểu thuyết về dòng “suối” có mặt hầu như tất cả những con người lam lũ đáng thương và đôi khi đáng giận của cái xóm nghèo gần cửa ô Đông Mác nơi anh ở từ nhỏ.
Có một điểm chung giữa những tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh, từ Miền hoang tưởng đến Hồ Quý Ly và sau này là Trư cuồng, ấy là sự cô đơn của những con người hy vọng đi tìm sự đồng cảm của đồng loại. Nguyễn Xuân Khánh viết Hồ Quý Ly từ trước năm 1980 dưới dạng một vở kịch. Tôi được đọc bản thảo đó, và đã khuyên anh chuyển thành tiểu thuyết. Hai mươi năm sau, Hồ Quý Ly ra đời thành nhân vật tiểu thuyết, cùng với những nhân vật khác là kẻ thù hoặc là anh em của mình, tất cả bọn họ lúc nào cũng đều là những người « độc bộ hành », những người có thói quen cúi đầu đi ngẫm nghĩ trong cuộc đời dài dặc. Vài chục bài báo khen Hồ Quý Ly trước và sau cuộc hội thảo về tác phẩm này. Nhưng chưa bài nào nói lên điều cốt tử này: nhân vật Hồ Quý Ly trong con mắt nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là một nhà cải cách tàn bạo và đẹp vì đầy ảo tưởng, là một nghệ sĩ được nhà văn ưu ái hơn là một chính khách.
Điều kỳ lạ, ấy là số phận của những tác phẩm máu thịt như thế. Riêng bản thảo Trư cuồng thì vô cùng trắc trở, mấy chục năm liền chưa gặp bà đỡ mát tay, vẫn chưa đến được với tâm hồn bạn đọc đông đảo. Điều kỳ lạ nữa, ấy là những người vẫn miệng nói về một nền văn học lành mạnh mang tính hiện thực, chính họ lại để cái thực khó nhìn thấy và diễn đạt bởi một nhà văn đích thực cứ phải nằm chờ trong im lặng. Vì họ mới chỉ đến đựoc cái tầm của những hiện thực sờ sờ. Hoá ra, viết về nhân vật Hồ Quý Ly như Nguyễn Xuân Khánh từng làm đó là một việc tự mổ xẻ đời mình và môi trường xã hội mình sống !
Nhưng sao ta lại thừa nhận hoàn cảnh đó mãi nhỉ? Tôi đã khuyên được Nguyễn Xuân Khánh cho in Trư cuồng trên talawas, cốt có bạn đọc, dại gì để mục trong hộc bàn? Nguyễn Xuân Khánh cần tự tin hơn về phẩm hạng tác phẩm của anh. Phẩm hạng gì, xin nhường bạn đọc tìm ra sau khi thưởng thức Trư cuồng.
Biệt thự Thu Trang, 3-8-2005
CD.
Nguồn: Trư cuồng. Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh. Talawas 2005. Bản điện tử do nhà thơ Hoàng Hưng gửi Triệu Xuân.
www.trieuxuan.info
|