tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
26.01.2013
Nguyễn Xuân Khánh
Trư cuồng

Tí không nói gì. Anh chỉ im lặng nghe Thái. Tí


rất thông minh. Anh đọc thông viết thạo, biết làm


bốn phép tính sau một năm học Thái. Chính lúc đó,


xã được giải phóng. Tiếp ngay sau đó, hoà bình lập


lại… Pháp rút quân… rồi cải cách ruộng đất.


Anh đội trưởng cải cách bắt rễ ngay vào Tí, từ


lúc mới về làng. Cuộc cách mạng nông thôn tiến


hành được chừng một tháng. Đó là giai đoạn gay go


quyết liệt nhất. Tí họp hành liên miên suốt đêm


ngày. Lên hồ sơ đối tượng… Rà xét từng gia đình…


Truy tìm gốc gác từng người… Phải xác định những


tên đầu xỏ… Tổ chức tố khổ… Tổ chức toà án… Tí


như lâng lâng… Một cái gì đó mới lớn lên trong


lòng anh. Cảm giác như đang bay trên chín tầng


mây. Vừa thấy lo lo vừa thấy khoái trá… Tại những


đêm mất ngủ chăng? Tại cái quyền năng vô biên như


 


có phép thần bỗng rơi vào tay anh chăng? Kỳ lạ thật!


Một con người như mình, đột nhiên từ ông già có


râu cho đến đứa trẻ nít ai ai cũng vì nể. Sao họ chào


anh cung kính đến thế? Thậm chí đến nhìn, họ cũng


chẳng dám nhìn thẳng vào mắt anh. Và bỗng dưng,


anh bỗng nói được những câu văn rất hùng hồn, và


giọng nói của anh cũng bỗng trở nên lưu loát. Ai


nghe anh nói chuyện cũng khen hay. Trong một cuộc


mít tinh, Tí nói dõng dạc:


- Hôm nay là ngày hội, ngày đại hội. Chúng ta


đang vùng lên, để xây dựng một lâu đài vinh


quang…


Trong giai đoạn quyết liệt ấy, một hôm. anh


đội trưởng cải cách họp riêng với Tí. Anh đội bảo:


- Đồng chí cùng nghiên cứu với tôi xem sao.


Trên bảo rằng ở xã ta dứt khoát có tổ chức Quốc


Dân Đảng. Vậy những ai là Quốc Dân Đảng? Và tên


đầu xỏ ở đây là ai?


- Thưa anh đội, em không biết.


- Thử nghĩ kĩ xem có hiện tượng gì khác lạ


không? Bọn Quốc Dân Đảng thường bắt rễ vào bọn


hương lý…


- Hương lý?… Dạ, thằng chánh tổng Hưng thì


chính tay em giết… Thằng lý Tiến thì ta mới bắn…


Lão phó hội Trạch, ta bắt giam… Còn lão Hương


Tẹo lão chú độc ác của em, lão ta chỉ ôm cái bàn đèn


… Thưa anh, thế là điểm hết mặt bọn hương lý ở đây


rồi ạ.


 


- Còn chứ… còn chứ. Chúng còn bắt rễ vào bọn


trí thức nữa. Anh thử nghĩ xem, ở làng này ai là trí


thức, là có học?


- Thưa anh, bọn trí thức có thằng Ký Bốn,


nhưng hắn ta ở Hà Nội từ bé, mỗi năm về làng có


một lần vào ngày giỗ tổ họ Lê; bọn tham Tùng, phán


Thiệp đều đã di cư vào Nam…


- Thử nghĩ kỹ thêm xem bọn trí thức ở đây còn


ai nữa không?


- Dạ, dạ… chỉ còn…


- Còn ai?


- Còn anh Thái, anh ấy là hương sư… nhưng


anh ấy đi theo kháng chiến, lại là lãnh đạo.


- Đó, đó… chính đó mới là chỗ hiểm. Bọn


Quốc Dân Đảng lợi dụng ta sơ hở, đã chui vào tổ


chức của ta, leo lên những địa vị chủ chốt.


- Thưa, thưa anh…


- Còn thưa gửi cái gì nữa… Trên rất nghi ngờ


thằng này, nhưng nó rất khôn ngoan, ta cần phải tìm


đủ bằng chứng. Tôi nói dứt khoát thằng Thái là


Quốc Dân Đảng. Anh thử nghĩ lại, nhớ lại… xem nó


có những hành động gì lén lút không?… Ví dụ nó


thầm thì với ai?… Nó hội họp bí mật ở đâu?… Nó…


- Dạ, anh Thái…


- Anh gì? Gọi nó là thằng.


- Dạ, thằng Thái có lén lút thật. Nó lén lút với


anh Phòng, chủ tịch xã.


- Cả thằng Phòng cũng một duộc.


- Dạ, em hiểu rồi… Thằng Thái, thằng Phòng


cùng với thằng Nam. Cả thằng Nam này cũng ghê


 


gớm; nó trạc tuổi em ra Hà Nội học tú tài. Nó về


làng bảo trốn Tây động viên bắt lính. Thằng Thái


cho nó làm thư kí uỷ ban. Hoá ra, cả một dây từ Hà


nội về đến quê. Chúng nó vẫn thì thụt gặp nhau ở


chùa ông Cụt giữa đồng. Người ta bảo rằng chúng đi


họp chi bộ cộng sản, nhưng thực ra chúng đã lừa dối


nhân dân. Chúng là bọn Quốc Dân Đảng đội lốt


Cộng Sản. Chúng đã chui vào bên trong tổ chức của


ta để phá ta.


Anh đội cải cách reo lên:


- Đúng, đúng như thế đó… Anh Tí ạ, anh rất


thông minh.


Một ngày hội. Đúng là một ngày hội.


Rộn vang khắp làng tiếng trống ếch, tiếng hô


khẩu hiệu của thiếu nhi đi cổ động. Trống to thì


thùng ngoài bãi. Dân làng nô nức túa ra đường làng,


kéo nhau ra bãi. Người ta thì thầm với nhau:


- Hôm nay đấu gục tên phản động đầu xỏ.


- Ai?


- Tên Thái.


- Toà án nhân dân xử tội?


Mắt người trả lời bỗng sáng lên:


- Xử bắn!


Xử bắn bao giờ cũng là một quang cảnh cực kì


kích thích. Người ta sợ, rợn, nhưng tự đáy thẳm ai


 


cũng muốn xem tận mắt. Ai cũng có ý nghĩ ấy,


nhưng chẳng ai thổ lộ với ai. Đội thiếu niên nhi


đồng không em nào vắng mặt. Những chú bé bẩy,


tám tuổi chưa được vào đội nhi đồng cũng trốn nhà


ra bãi đầu làng, ở đấy người ta dựng sẵn một cây


thập ác bằng tre.


Đấu, tố, trỏ mặt, giậm chân, mặt mũi đỏ bừng


sầm sầm, nộ khí xung thiên, la hét… Có những


người khóc nấc lên rồi ngất đi vì xúc động.


Vài phút lại vang lên những tiếng hô dậy trời


“đả đảo”. Người ta hô đến khản cả tiếng. Có người


khản đặc, tiếng nói phào phào…


Bãi bắn đông nghịt những người. Cờ, khẩu hiệu


đỏ chói. Chỗ ngồi của bà chánh án cao vút, uy nghi.


Người nào cũng sáng mắt nhìn ra phía trước, nhưng


không phải nhìn vào án đài, mà nhìn vào cây thập


ác.


Người chỉ huy đội bắn cao to lẫm liệt, đang


hùng dũng bước ra. Người ta xì xào: “Ông Tí giò.”


Cái vóc dáng khổng lồ của Tí giò càng làm thần kinh


người dự xem thêm căng. Tí giò đứng ngẩng cao


đầu, tay trái chống cạnh sườn, tay phải chỉ vào mặt


Thái lúc này đã bị trói chặt vào cột.


- Các đồng chí chú ý! Mục tiêu: Tên phản động


trước mặt. Tư thế: đứng chuẩn bị bắn.


Thày giáo Thái lồng lộn, vùng vẫy. Người xem


thì thào:


- Ông Tí giò đã trói bằng lạt tre tươi lột lấy cật


rồi đem nướng lửa. Có đến hổ bị ông Tí trói cũng


 


chịu cứng, nữa là lão Thái gày gò. Rẫy rụa chỉ tổ sầy


vẩy, cũng chẳng nước mẹ gì.


Tí mỉm cười, nhìn con mồi của mình đang tuyệt


vọng lồng lộn. Chờ cho đến lúc Thái quá đau đớn


mệt mỏi, anh đứng im thở hồng hộc, lúc đó Tí giò


mới hô: “Chuẩn bị bắn”.


Ba anh du kích đứng gié chân chèo, bắt đầu lên


đạn và nhằm súng vào cái vóc người gầy gò thảm hại


bị buộc giăng tay vào cây thập ác. Con người chịu


khổ nạn ấy không rãy rụa nữa. Cũng may, đôi con


mắt bị buộc chiếc khăn vuông đen nên anh đã không


phải chứng kiến những khuôn mặt người bị méo mó


đi vì khoái trá, vì căm giận. Họ căm giận anh thực


sự. Anh không trông thấy nhưng anh nghe thấy


những tiếng hò hét, những tiếng rì rầm của họ thì


anh hiểu. Anh cảm thấy thương hại sự vô ơn của


những con người ấy. Chính vì những con người ấy


mà bao năm nay anh lăn lộn xả thân…


Tí cố để cho cái phút chuẩn bị, chờ đợi chết ấy


hơi kéo dài. Nhưng không sao! Tí đã mơ hồ cảm


thấy tâm lí của người đi xem xử tử. Hình như mọi


người đều muốn cái phút chờ đợi ấy kéo dài.


Trong khi ấy, Thái mê man đi cùng bao suy


nghĩ. Đáng lẽ ra lúc ấy anh phải kêu lên những tiếng


kêu uất hận, cũng có thể những tiếng kêu oan ức.


Đằng này Thái lại bật lên một tiếng hô làm cả pháp


trường bỗng ngỡ ngàng Anh rướn cổ lên và hô to:


- Đảng cộng sản muôn năm!


Có lẽ vì Thái hô to quá, kỳ dị quá, nên khi Tí ra


lệnh: “Bắn”, ba anh du kích bỗng run tay. Một anh


 


bắn trượt, một anh bắn trúng tay, một anh bắn sượt


má Thái. Tí bực bội gầm lên:


- Hãy để hắn cho tôi.


Và Tí đã dũng mãnh xông lên, rút con dao đồ tể


mỏng hình lá lúa mà anh thường giắt bên người.


Bằng một đường dao chính xác, ngọt ngào, anh đã


đâm từ cổ thọc xuống tim người đội trưởng du kích,


người dẫn đường anh khi xưa.


Thái ngoẹo đầu xuống, hình dáng hệt như chúa


Jesus chịu nạn.


Lúc chết, mắt Thái vẫn mở to. Đôi mắt như ngơ


ngác, như băn khoăn, như bàng hoàng, vì chưa hiểu


ra một điều gì đó thật kì quái.


Khi Tí rút con dao lá lúa ra, dòng máu ở cổ Thái


vọt dài. Người đi xem nhiều kẻ tay run cầm cập,


nhưng mắt vẫn sáng quắc. Có người còn nuốt nước


bọt.


Riêng anh Tí giò, tối hôm ấy, anh xách con cá


quả to bằng bắp chân về nấu ám. Tí uống rượu cùng


đội trưởng cải cách. Anh còn vui vẻ hát cho anh đội


nghe một câu hát xưa rất thú vị


Vô phúc lấy phải học trò


 


Thình thùng thình…


Cô Phốp, cô gái to béo đa tình ở đội du kích


năm xưa đi qua ngõ nhà Tí, bỗng nói vọng vào, khen


ngợi:


- Giọng anh Tí hát hay quá!


Khi sửa sai, ông Hương tẹo được xuống thành


phần trung nông lớp trên, còn anh Thái được phục


hồi danh dự. Nhân dân lúc này sì sào về Tí giò,


nhưng đồng chí cán bộ sửa sai giải thích:


- Có sai lầm, nhưng phải hiểu cải cách ruộng


đất thắng lợi là cơ bản… Còn các đồng chí cán bộ


cốt cán, về cơ bản cũng là những con người rất tốt;


họ vẫn là chỗ dựa của Đảng. Sửa sai cốt để đoàn kết


nông dân, chứ không phải để hục hặc lẫn nhau. Phải


đoàn kết giữa các đồng chí cũ và mới. Phải hiểu rằng


các đồng chí cốt cán rất triệt để cách mạng. Họ sai


bởi vì họ quá triệt để. Nhưng, triệt để cách mạng là


một phẩm giá cao quí nhất.


Dĩ nhiên, Tí là người triệt để cách mạng, vì


vậy người ta muốn đưa anh lên làm chủ tịch xã. Tí


khiêm tốn:


- Tôi không làm chủ tịch được đâu. Xin cho tôi


làm việc khác.


- Việc gì?


- Cho tôi làm trưởng công an xã.


Ngày xưa, anh Thái đã phát hiện ra năng khiếu


ấy của Tí. Tí, qua kinh nghiệm giết lợn của mình, đã


hiểu rằng người nào nắm quyền sinh quyền sát là


người ấy có quyền to nhất. Ông chủ tịch xã quyền có


to, nhưng là quyền giả tạo. Chính chánh công an xã


mới là người quyền to nhất, bởi vì ông ta có quyền


theo dõi mọi người, có quyền dùng tiếng nói của


mình để buộc tội hoặc tha người. Tí đã có thêm một


kinh nghiệm mới: giết người bằng dao là khó, nhưng


giết người bằng ba tấc lưỡi còn khó hơn nhiều, bởi


vì nó sạch sẽ hơn, tinh vi hơn, bí mật hơn, sâu hiểm


hơn. Đó là kinh nghiệm ông Hương tẹo đã truyền


cho Tí.


Khi ông Hương tẹo được xuống thành phần, Tí


giò có vẻ ngượng ngùng, không dám dàn mặt ông


chú. Nhưng ông Tẹo là người từng trải, khôn ngoan.


Chính ông đã tự mình đến gặp người cháu. Ông nói:


- Cái chuyện cải cách, chú có giận anh. Giận


nhưng lại mừng. Mừng vì anh hiện nay giữ một chân


quan trọng nhất xã. Anh đã làm rạng danh cho họ


Nguyễn nhà ta. Thử hỏi, hiện nay trong họ Nguyễn


ai quyền cao chức trọng bằng anh? Xưa kia, hồi


Pháp, chức tước cao nhất trong họ là chú cũng chỉ


giữ được chân hương trưởng. Này, này… mày đừng


có coi thường lão cường hào già này nhé. Ngày xưa,


chánh tổng lý trưởng của cả vùng này đều phải châu


đầu quanh cái bàn đèn của tao. Trong huyện, người


ta gọi cái bàn đèn của tao là trường học tổng lý đấy,


con ạ.


- Bây giờ, thời buổi có khác chú ạ.


- Khác cái gì? Vẫn luỹ tre, vẫn con trâu, vẫn


họ hàng làng mạc cũ, vẫn những con người xưa, vẫn


những tục lệ xưa. Cái khác là tên gọi mới: ví dụ


chánh tổng người ta gọi là chủ tịch… Tức là con


người đã khôn ngoan hơn… Không ai dùng ba toong,


cặc bò như xưa nữa, mà dùng những lời ngọt ngào


đường mật để thít chặt con người lại. Cậu đã hiểu


chưa.


Tí không cãi lại, cũng không tỏ ý tán thành, anh


ta cứ lửng lơ, và lặng yên suy nghẫm. Việc ông Tẹo


lấy lại cái nhà gạch của ông đã chia cho Tí cũng rất


khéo léo. Một hôm, ông nói chuyện với cháu:


- Chú có thể cho anh cái nhà của chú. Nhưng,


như thế, về sau con chú và anh lúc nhìn mặt nhau nó


vẫn có điều hận. Chi bằng chú đưa cho anh ít tiền,


và cứ nghe lời quân sư của chú, khắc là anh có nhà.


Này nhé… đất, ta xin xã; chọn miếng đất thật nục


nạc, thật đẹp, có tiền, có hậu, rộng gấp đôi gấp ba


của chú thì hãy xin. Có cơ hội, đã xin phải xin cho


nó xứng. Còn gạch ngói, công sức ta nhờ dân làng,


nhờ bọn đàn em trong làng. Mày cứ nhấp môi một


tiếng, khắc có đứa tự nghuyện đến làm giúp. Còn


tiền nung gạch, chi phí, tao trả. Bụi tre trong vườn


thì ngả xuống ngâm làm đòn tay…


- Cháu sợ người ta nói ra nói vào.


- Đứa nào dám nói? Giúp ông chánh công an


nghèo, đó là cái nhiệm vụ. Vả lại mình vẫn cho họ


ăn uống đàng hoàng. Rượu, tao cho nồi gạo mà nấu.


Cá mua rẻ của xã… Lợn, vay của xã… Vài năm sau


sẽ trả…


Thế là Tí có ngôi nhà gạch năm gian đàng


hoàng. Và từ đấy, chú cháu lại trở nên tâm đắc. Dần


dần bên mâm rượu, bên ấm trà, ông chú đã nghĩ ngợi


và truyền lại hết cái nghề chăn dân của mình cho


ông cháu:


- Nông thôn ta không gì bằng họ hàng. Phải


lấy họ hàng làm cái gốc, làm vây cánh. Phải gây


dựng cho anh em, con cháu trong họ.


- Gây dựng bằng cách nào?


- Đưa dần con cháu, họ hàng mình vào Đảng,


vào các chức vụ quan trọng. Trong họ phải có đứa


làm chủ nhiệm, làm bí thư thanh niên, làm đảng uỷ


… Vây cánh mình mạnh, tức khắc các họ khác phải


nem nép nghe theo mình. Việc ấy phải làm lâu dài,


phải năm năm, mười năm mới xong.


Ông còn dạy cháu những đòn hiểm hơn.


- Hiện nay, trong xã họ Phạm đang chiếm hết


ghế chủ chốt; chủ tịch, chủ nhiệm, thanh niên, đảng


uỷ, họ đều nắm cả. Ta phải liên kết với họ Trịnh, vì


họ Trịnh đang nắm chức bí thư. Phải ngọt ngào với


họ Phạm, nhưng phải luôn rình mò, nắm cho hết tội


lỗi của người họ Phạm. Cháu làm công an, cháu thừa


sức làm được điều đó. Con người đã làm việc bao


giờ cũng có sai lầm; hãy chờ một cơ hội lúc họ Phạm


mắc một lỗi lầm to lớn, thế nào cũng có cơ hội đó,


khi ấy ta tập trung khoét sâu tội lỗi và đánh đổ


chúng nó.


Tí đã thực hiện đúng cái ngón ”khoét dần đưa


dao vào tim” của ông chú. Anh lầm lì, ngọt ngào với


người họ Phạm. Đùng một cái, chủ nhiệm họ Phạm


thông đồng với thủ kho họ Phạm tham ô một tấn thóc


nếp bán cho tư thương. Tí đã gài người biết chắc giờ


giấc giao hàng, và đã bắt quả tang bọn tham ô. Tí đã


tập hợp được một đống tài liệu về những người họ


Phạm, mà anh đã rình mò tích tụ suốt năm năm liền.


Từ vụ ăn cắp một tấn thóc, anh đã cộng thêm vào


hàng trăm vụ việc khác. Lẽ dĩ nhiên họ Phạm bị


đánh đổ, mất gần hết các vị trí then chốt trong bộ


máy quyền lực. Chức chủ tịch và chủ nhiệm hợp tác


xã lập tức rơi vào tay những người họ hàng của Tí.


Ông Hương Tẹo uống rượu với chánh công an Tí


giò. Ông chú cười ha hả:


- Bây giờ cánh họ Nguyễn nhà ta mạnh nhất


làng rồi. Cậu cháu thấy mưu mẹo của ông chú ra


sao?


- Thưa, đúng là mưu Gia Cát.


- Hừ, anh tưởng chỉ riêng chú mới nghĩ ra được


những điều đó sao? Không, khắp nơi đâu đâu người


ta cũng làm như chú cháu ta cả. Vẫn là mưu mẹo


thời xưa thôi cháu ạ. Chú đã bảo thời bây giờ vẫn


giống thời xưa là như thế. Bình cũ rượu mới mà. ở


cái nước Việt Nam ta, trong bất cứ ai, cũng đều


chồm chỗm trong đầu một bộ óc kì hào quan lại. Gặp


dịp là ông kì hào nhỏm dậy ngay tức khắc.


- Đến cuối tiệc rượu, khi đã ngà ngà Tí hỏi


Hương Tẹo:


- Thưa chú, bây giờ cháu nên làm gì?


- Còn làm gì nữa? Cháu mất bao công sức, họ


Nguyễn nhà ta mới được như ngày hôm nay. Có công


thì có hưởng. Bây giờ việc của anh là sống sao cho


sướng. Bây giờ anh có làm voi làm chuột cũng chẳng


đứa nào dám hé môi.


Từ đó, Tí xoay ra nghĩ đến việc sung sướng.


Tí lấy vợ sau cải cách ruộng đất. Anh đội ghép


Tí lấy một cô cốt cán xã bên cạnh. Ai cũng bảo hai


người đẹp đôi. Đi đâu Tí cũng khoe:


- Vợ tôi là cán bộ phụ nữ.


Khoe là khoe ngoài miệng thôi, chứ thực trong


bụng, Tí rất bực bội. Có gì đâu, sở dĩ bực, vì vợ Tí


người gày khô. Theo quan niệm của Tí, người đàn bà


được gọi là đẹp, trước tiên người ấy phải béo. Quan


niệm thẩm mỹ ấy làm Tí nhiều khi cảm thấy mình


như bị mất mát một cái gì đấy. Tuy Tí đã lấy vợ hơn


chục năm rồi, mà anh vẫn mê mệt cái thân xác phây


phây của cô bạn du kích thời kháng Pháp. Kỉ niệm


về cái đêm trăng xưa, khi hát trống quân, cô gái ấy


ngửa mặt lên trời mà hát, luôn ám ảnh lởn vởn trong


tâm trí Tí. Anh thường nhìn mẹ Phốp và ao ước, tiếc


rẻ: ”Chính mụ ấy mới hợp mình. Đàn bà đôi vú thây


lẩy thế kia mới đáng gọi là đàn bà.”


Mỗi lần gặp Phốp, Tí giò lại hau háu nhìn mụ


như muốn ăn sống nuốt tươi. Về phần Phốp, chị ta


cũng thích Tí ra mặt. Mặc dù lấy chồng đã ba con,


nhưng hễ gặp Tí là mắt mụ lại lẳng lơ lúng liếng.


Trước kia, tuy thích nhưng vẫn sợ; từ ngày


được ông chú giảng giải về cái thế của anh, Tí hết


sợ. Mấy hôm sau, một đêm đi họp, Tí sấn sổ nắm lấy


tay mẹ Phốp… Tuy có du đẩy thẹn thò, nhưng cử


chỉ, dáng điệu ấy chỉ là mẽ ngoài, còn trong bụng


Phốp cảm thấy như việc ấy là dĩ nhiên, mà có lẽ việc


ấy còn xẩy ra quá chậm thì phải. Đáng lý, họ đã phải


kết hợp với nhau từ lâu.


Rơm tình bén lửa đùng đùng. Chỉ trong một


tháng họ đã kiếm cơ hội ăn ở với nhau ba lần.


Nhưng càng gặp nhau, họ càng không thấy thoả, và


càng cảm thấy thèm khát nhau hơn.


Một đêm, Tí ra thăm trại lợn, nơi Phốp làm đội


phó. Họ đã nhấm nháy nhau từ trước. Đêm đó, chỉ có


mình Phốp trực. Trăng sáng nhễ nhại. Tí đè ngửa


ngay Phốp ra ở đống rơm góc sân.


- Đừng… đừng…


- Sao lại đừng? Trông thấy đằng ấy là tớ thèm


ngay.


- Khéo chả…


- Sợ cái gì?


- Ái, ái… sợ ông trăng. Phốp cười rúc rích, rồi


giằng tay Tí đứng dậy. Mẹ Phốp ngực để trần chạy


quanh đống rơm. Mớ tóc đen của người đàn bà tung


đằng sau tấm lưng trắng ngát. Trăng loang loáng ẩn


hiện trên đôi vú nhún nhẩy. Trông Phốp như một nữ


thần linh khổng lồ, phì nhiêu, đa tình đang bay nhảy


với đôi cánh tay vẫy gọi… cuối cùng họ lại ôm lấy


nhau, ngã xuống đống rơm.


- Đừng, đừng…


- Tớ đếch sợ ai cả.


- Nhưng em sợ… con lợn đực – Phốp lại cười


rúc rích.


Nghe Phốp nói, Tí quay lại phía sau lưng. Mắt


anh chợt nhìn thấy con lợn đực đại bạch trên ba tạ


đang chồm chân lên cửa chuồng, và nhìn cái thân


hình trắng nhễ nhại của Phốp bằng con mắt hau háu.


Tí càng thấy khoái trá, hắn càng cười to, cười vang.


- Nó thấy em trắng phau, nó tưởng em là con


nái đại bạch.


Phốp đấm lưng Tí đùm đụp. Còn Tí thì giơ nắm


đấm doạ đùa con đại bạch:


- Có quay mặt đi không? Coi chừng, chẳng ông


giã giò…


Mẹ Phốp lại càng cười hi hí. Đôi vú thây lẩy


của mụ cũng rung theo một cách đa tình.


Tí bỗng cảm thấy như đã từ xưa lắm rồi, rất xa


xưa, Tí vẫn thèm một cảnh như thế này. Và cảnh ấy


đã xảy ra còn thú vị hơn cả anh mong muốn.


Trăng sáng… Tí làm tình với Phốp… Giữa


trời… giữa trăng… Đêm tĩnh mịch và gió hây hây…


Thật là thoả! Thật là thoả!… Tí hoà tiếng cười cùng


với Phốp. Mẹ Phốp trắng hếu… tênh hênh. Tí cưỡi


lên bụng mụ ta, hai tay nắm lấy đôi vú…


Cả một đêm dày quá khứ, bị kìm hãm, bị dồn


nén đã bao năm bao tháng, nay phút chốc vụt thức


giấc, bỗng bung ra. Thoáng một ý nghĩ bỗng nảy ra


trong đầu óc người nông dân cường tráng ấy:


“Có lẽ đã từ ngàn năm rồi… chưa phút nào ta


được sống như hôm nay… Ha ha, ta muốn bay… ”


Hắn ngửa cổ nhìn đám mây bông trên trời, nhìn


ánh trăng bạc đang tưới sữa lên mình Phốp, lên ngực


Phốp. Tí như muốn húp cả ánh trăng loang loáng


chảy trên đôi vú.


Tí bỗng cao hứng hai tay kéo dài đôi vú. Một


cảm giác như đang bay trên con ngựa thời gian. Từ


đáy thẳm tăm tối, trong phủ tạng của hắn bỗng vang


lên một âm điệu nhịp nhàng. Phải chăng tiếng chày


khua vào sâu thăm thẳm không gian.


Mẹ Phốp rú lên từng đợt cười hoang.


Và tất cả như một lời thơ.


Nhịp nhàng, nhịp nhàng …


Hỗn độn hối hả


Hào hùng tưng bừng


Hồng hồng đỏ đỏ



Đầy kho thuốc nổ


Đen ngòm chói loà



Nhịp nhàng, nhịp nhàng …


Vút cao vời vợi


Ta là chúa tể …


Ta là bao la …



Đang lúc Tí cao hứng đến tột đỉnh như vậy, đột


nhiên vang lên tiếng thét:


- Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!


Rồi đùng đùng, đoàng đoàng. Ba phát súng nổ,


hay nhiều phát súng nổ, Tí cũng chẳng kịp nhận ra


nữa. Rất nhiều tiếng chân người chạy ập tới.


Tí cuống quít, Phốp cũng cuống quít. Cô ta rên


lên:


- Hơ… Cái quần tôi đâu?… Cái áo tôi đâu?…


Chúng bay trốn lủi ở đâu?…


Tất cả đội du kích và đội chăn nuôi đều có mặt.


Các cô gái trẻ nhìn quang cảnh cười khúc khích…


Còn Phốp đang cố lấy rơm phủ lên người, rồi van


lạy:


- Các anh các chị… Hãy cho tôi xin quần áo


đã.


Mớ tóc đen óng của Phốp lúc này rối bù thảm


hại.


Thì ra, đôi trai gái đã bị rơi vào bẫy gài trả thù


của dòng họ Phạm. Người ta bố trí hiện trường,


người ta đã bò vào lấy cắp quần áo của Tí – Phốp,


trước khi hô bắt.


Người ta không cho Tí mặc quần áo, họ làm biên


bản, rồi đi mời bí thư đảng uỷ tới.


Cuộc đời chính trị của Tí như ngôi sao băng: loé


sáng lên rất nhanh, và phụt tắt đi cũng rất nhanh.


Sau chuyện xảy ra ở trại lợn, người ta tước mọi


quyền hành của Tí, để anh ta trở lại đời sống dân


thường.


Tuy vậy, mọi người chung quanh vẫn sợ anh ta,


chí ít không sợ thì cũng vẫn phải kiêng nể. Sao vậy?


Người ta thì thào với nhau:


- Đừng động đến hắn. Hắn đổ rồi nhưng cánh


họ Nguyễn vẫn mạnh. Vả lại, hắn không làm công an


xã nữa, nhưng bên trên vẫn tin cậy hắn. Nghe nói


hắn vẫn làm ” cá chìm ”.


Thế nghĩa là Tí đã mất cái quyền lực công khai,


nhưng vẫn còn cái quyền lực ẩn ngầm. Cũng có thể


Tí chẳng còn là cá chìm cá nổi gì nữa, nhưng vì


trước kia lưỡi dao của Tí đã quá sắc ngọt, nên khi


lưỡi dao ấy đã gãy rồi, người ta vẫn còn sợ bóng cái


ánh hào quang quá khứ của nó. Thậm chí dạo này Tí


rất bừa, có thể nói bê tha. Anh ta lại đi mổ lợn như


thời hàn vi; và khi đi làm về, Tí lại vẫn mua cút


rượu rồi nghêu ngao hát điệu trống quân:


Có phúc thì lấy Đồ Tể làm chồng


… … …


Thình – Thùng – Thình


Người quê tôi cũng sợ nốt cả trò bê tha ấy của


Tí. Lại có tiếng thầm thì vào tai nhau:


- Hắn giả vờ đấy. Người ta thường giả vờ bê


tha rượu chè để đánh lừa dư luận. Có tâm sự gì chớ


có thổ lộ ra với hắn.


Khi Mỹ ném bom, người ta đem những tử tù về


bắn ở ven đê, cạnh rặng phi lao làng tôi. Ông đại uý


công an ở bộ về gặp ông chủ tịch xã:


- Đề nghị các đồng chí giới thiệu cho một


người lý lịch đáng tin cậy để phục vụ trường bắn.


Dĩ nhiên, ông chủ tịch tiến cử Tí giò. Ông công


an gặp Tí liền nói:


- Xin lỗi, tôi nói thật, đồng chí tuy đã là công


an xã, nhưng công việc này đòi hỏi phải là một


người… không sợ máu me.


Tí giò cười ồ:


- Tôi đã quen với máu me từ hồi còn bé.


- Vậy thì tốt quá. Nhưng cũng xin nhắc công


việc của đồng chí là phải trói tù vào cột. Phải trói


cho chặt, kẻo lỡ ra khi bắn tử tù hăng lên giật trói,


chạy vung lên thì rầy rà.


- Việc đó đồng chí khỏi lo. Đồng chí chắc chưa


biết, chỉ riêng công việc trói đó, lúc học nghề, tôi đã


phải luyện tập đúng một năm trời. Nhân tiện, tôi


cũng đề nghị cho tôi được phép một điều: hãy cho


quyền tôi được trói bằng một thứ lạt riêng, chứ


không trói bằng thừng.


- Trói bằng lạt?


- Vâng bằng lạt ạ. Xin chớ ngại. Đó là thứ lạt


đặc biệt, bằng tre tươi chẻ lột, chỉ lấy phần cật thôi,


sau đó đem nướng lửa hoặc luộc bằng nước muối.


- A ha! Độc đáo thật.


Từ đó, hễ buổi tối nào thấy Tí giò say và hát


điệu trống quân thình – thùng – thình của hắn, là dân


làng biết ngay sáng hôm sau có vụ xử bắn ở ven đê;


bởi vì Tí có thói quen uống rượu đêm hôm trước khi


thừa hành việc pháp trường. Những đêm ấy, thường


bọn thanh niên hay lân la đến hỏi:


- Bác Tí ơi, mai họ bắn đám nào?


- À… bắn cái thằng cán bộ mê gái bỏ thuốc độc


giết vợ.


Hoặc:


- Bắn thằng giám đốc kho A. Đã tham ô hàng


triệu bạc thuốc quí để phục vụ chiến trường, sau đó


lại đốt kho phi tang.


Hoặc:


- Bắn thằng phó chủ tịch xã H lợi dụng chức


quyền hà hiếp dân, đã giết một học sinh sau đó còn


khoét mắt cậu bé.


Từ ngày Tí giò phục vụ pháp trường, lại có


thêm bao nhiêu chuyện huyền hoặc trùm lên con


người anh ta. Bà hàng xóm kể chuyện:


- Nhiều đêm, tôi nhìn qua hàng rào sang, thấy


bác Tí đứng hoa tay múa chân giữa sân, nói chuyện


với những hồn ma đã bị xử tử. Có hôm, vào lúc quá


nửa đêm, tôi đang nằm bỗng dựng tóc gáy lên vì


nghe rõ mồn một tiếng người con gái van xin: ”Con


cắn cỏ con lạy bác. Xin bác đừng trói chặt hai tay


con.” Bác Tí nói cáu kỉnh: “Mặc mày! Nghề của tao


là nghề trói buộc. Mà đã trói thì phải trói chặt.” Con


ma đàn bà vẫn nức nở: “Cháu van bác. Hãy nới tay


cho cháu một chút. Xin bác cởi trói cho cháu một


phút. Một phút thôi. Để cháu ôm con, cho nó bú một


miếng.” Bác Tí lúc này có vẻ mủi lòng một chút síu:


“Mà tao cũng phải lạy mày thôi. Phải hiểu cho tao


chứ. Tao có quyền gì. Chỉ là con xe con pháo. Người


ta chỉ đâu đánh đấy. Nếu tao cởi trói cho mày, tao


cũng chết theo.” Tiếp đó, chắc có quan trên đi tuần,


nên lại nghe thấy tiếng cộc cằn nạt nộ: “Mặc xác!


Không bú mớm gì hết. Đã trói là không có cởi.” Con


ma đàn bà hu hu khóc. Tiếng khóc nghe rởn tóc gáy.


Bà hàng xóm còn kể nhiều chuyện kì lạ khác về


Tí giò. Bà này khéo kể, nên chuyện nào cũng sinh


động nghe cứ như thật. Dần dần, đi tới chỗ những


người trước kia chỉ nể Tí, nay đã chuyển sang thành


sợ hãi Tí. Và cuối cùng ai cũng sợ Tí giò. Cứ trông


thấybóng Tí ở xa, lũ trẻ con đều lảng hết. Cả người


lớn cũng muốn lánh xa anh. Chẳng còn ai dám trêu


Tí như xưa. Người ta doạ trẻ con bằng câu nói: “Mày


khóc to, tao đem ngay đến nhà ông Tí giò.” Ông chủ


tịch doạ bọn lưu manh trong xã: “Các anh liệu hồn


đấy! Kẻo rồi lại được nếm cái mùi lạt tre của bác Tí


giò.”


Dần dần Tí giò ý thức được rằng tất cả mọi


người đều nể sợ anh. Sự sợ hãi một con người là


biểu hiện của tác động quyền lực thô bạo. Nhiều


người không thích, có người căm ghét, nhưng phần


đông người ta thích sự sợ hãi đó. Tí giò cũng thích.


Sự nể sợ của mọi người đã làm biến đổi hẳn Tí. Nó


gây trong anh một khoái cảm siêu nhân. Dần dần Tí


tự thần linh hoá. Con người anh cũng biến hình đổi


dạng. Hình như Tí đã biết phép tô đậm thêm tính


cách của mình để phù hợp với vai trò thần linh mình


đang sắm. Là người hay nói, hay hát, đột nhiên Tí


trở nên trầm lặng. Anh uống rượu nhiều hơn, và chỉ


trường hợp đi ra trường bắn Tí mới hát cái bài


“thình, thùng, thình” ưa thích. Xưa kia, dáng anh


bước nhanh, đầu hơi ngả về trước, còn bây giờ anh


đi đứng chậm chạp đầu ngẩng cao, để tạo cho cái


dáng hộ pháp của anh thêm đường bệ. Và từ một con


người huyền thoại, anh đã trở thành một con người


huyền bí.


Huyền bí nhất là chuyện giữa anh và tên tử tù


Lan.


Lan là một học sinh Hà Nội đã học xong lớp


mười và đã đi bộ đội bốn năm. Bốn năm đời lính thì


đã hơn ba năm anh lăn lộn ở Trường Sơn đánh Mỹ.


Lan bị thương, điều trị ở Quảng Bình. Lành vết


thương, Lan tranh thủ về nhà, ngôi nhà có gốc bàng


trước cửa che mát. Gốc bàng sù sì cổ thụ đà ghi lại


bao kỉ niệm ấu thơ. ở đấy có những tổ dế, có những


chú ve lột xác; và cũng ở đấy Lan đã khắc tên mình


và tên một cô bạn gái. Lan yêu mầu lá xanh, nhưng


thích nhất vẫn là mầu đỏ bầm cánh gián của nó. Có


lẽ Lan thích mầu cánh gián ấy cũng chỉ vì đúng vào


mùa đông, khi anh nhập ngũ, khi cây bàng khoác áo


mầu đỏ, thì anh đã tỏ tình với người bạn gái cùng


lớp.


Ôi cây bàng! Anh đã tốn bao giấy mực để làm


thơ về nó, để ca tụng nó. Cây bàng đã trở nên linh


thánh. Nó là biểu tượng về một hạnh phúc rất lung


linh mà cũng rất trần gian. Có lẽ một chàng trai


mảnh dẻ như anh mà chịu đựng nổi bao khổ cực của


những ngày chiến đấu cũng nhờ vào bóng dáng cây


bàng mà anh luôn mang theo trong tâm tưởng. Mà


cũng chỉ vì những kỉ niệm gốc bàng ấy, nên Lan đã


tranh thủ về Hà Nội, khi anh ra viện.


Về đến Hà Nội, lại cũng chính gốc bàng này đã


làm anh bịn rịn. Anh gặp lại người yêu ở gốc bàng


sù sì đó. Lại thêm những kỉ niệm mới, những kỉ


niệm rất đỗi tầm thường đối với người đời, nhưng lại


rất thân thương đối với chàng trai si tình. Một tháng


sau chàng mới lên đường trở lại đơn vị. Đêm chia


tay, chàng tiễn nàng ra đầu phố, nàng lại tiễn chàng


trở lại gốc bàng… cứ như thế, họ đi suốt đêm bên


nhau.


Khi Lan trở lại Trường Sơn, đơn vị anh đã rời đi


nơi khác. Và đến đây, bắt đầu một sự yếu đuối, bắt


đầu một sự trốn bỏ, và cũng có thể nói bắt đầu bi


kịch của một anh lính “B quay”


Lan lủi thủi mang ba lô quay trở về Hà Nội,


quay trở về gốc bàng ấu thơ. Nhưng lần trở lại này,


Hà Nội đón chờ anh khác hơn. Bà dì ghẻ của anh, cứ


trông thấy mặt anh là hầm hầm tức giận. Có thể,


trong tâm, bà không độc ác, nhưng tình thế đã bắt bà


phải đối xử như thế. Ông bố Lan đã về hưu, bà mẹ


ghẻ lại có ba đứa con; một mình bà chèo chống nuôi


cả gia đình đã khó khăn, nay lại phải nuôi thêm một


ông lính ”B quay”, ắt bà phải khó chịu. Người yêu


của Lan thấy Lan chẳng có tương lai gì, bỗng tỏ ra


hờ hững. Lan bí quá, lên khu đội cầu cứu, nhưng họ


đuổi về, bảo không nhận một người lính mất tinh


thần như anh.


Lan xoay xoả mua chiếc bơm, và hộp nhựa, ra


đầu đường để bơm vá xe đạp…


Anh công an hộ tịch cũng chạc tuổi Lan đến hỏi


giấy tờ.


- Tôi không có giấy phép, nhưng hoàn cảnh của


tôi gay go quá…


- Không có giấy phép, không được hành nghề.


- Anh thương tôi một chút, tôi chẳng còn con


đường nào để sống. Tôi cố gắng sống lương thiện.


- Hừ, anh là ”B quay”. Không có chuyện lương


thiện.


- Thế thì các anh bắt tôi đi. Vào tù tôi còn có


miếng cơm ăn.


- Anh hãy cứ chờ. Bao giờ tôi lên đủ hồ sơ, và


trên xét duyệt, anh sẽ được đi cải tạo.


Chờ đợi để được đi cải tạo. Lan cay đắng vác


bơm về nhà. Cả nhà đã ăn cơm rồi, anh xuống bếp


lục nồi cơm nguội. Cơm nguội chẳng còn, Lan rớm


nước mắt, anh hiểu bà dì ghẻ muốn triệt cơm anh.


Lan nhịn đói lang thang trên hè phố quê hương.


Hà nội vẫn vui vẻ, vẫn hào hoa, vẫn thanh lịch như


chẳng hề bao giờ biết tới một người con của nó đi


vào ngách khốn cùng… Người ta vẫn hát, vẫn hào


hùng; người ta vẫn yêu nhau, một cô gái nào đó đi


bên người yêu chợt cười rúc rích… Mặt hồ Gươm


vẫn xanh; chiếc cầu cong cong vẫn đỏm dáng; sau


trận mưa cây hoa sữa vẫn phả hương ngào ngạt…


Lan chợt thấy cô đơn, cô đơn hơn cả loài cây cỏ…


Chợt anh đứng sững lại choáng váng. Anh không


tin ở mắt mình nữa. Ai kia? Một cô gái đang đi xe


đạp bên cạnh một chàng trai. Mà họ cũng cười rúc


rích… Người con gái ấy chính là người yêu của Lan.


Bây giờ thì Lan nguyền rủa cái gốc bàng ấu thơ.


Bây giờ, Lan muốn đập nát hết những kỉ niệm phỉnh


phờ. Thế giới đối với anh sao hão huyền, sao độc ác!


Anh bỏ nhà đi vất vưởng, ba hôm sau mới quay


trở về. Lần này anh xuống bếp lục nồi; rất may còn


bát cơm nguội. Anh rưới thìa nước mắm, cố lùa hạt


cơm lạnh ngắt vào bụng, song nuốt cũng không trôi.


Bà dì ghẻ ngồi ở tấm phản, rít lên:


- Quân lười biếng! Quân lưu manh! Thời buổi


bây giờ không làm mà đòi ăn. Đổ cơm cho chó nó ăn


còn hơn cho nó.


Lan đặt phịch bát cơm xuống. Đúng lúc đó,


người công an hộ tịch bước vào nhà. Bà dì đổi sang


giọng đon đả:


- Kìa, chú đến chơi. Mời chú ngồi.


- Tôi đến hỏi bà về việc anh Lan mấy ngày qua


vắng mặt mà không báo cáo. Anh ấy đã về chưa?


- Kìa, kìa… Ông ấy đang lục nồi dưới bếp. Chỉ


được cái ăn là giỏi thôi chú ạ.


- Cậu ấy là người hư. Gia đình cần phải quản


lý cậu ấy thật chặt chẽ. Anh ta đi đâu? Vắng mặt lúc


nào? Làm việc gì? Nhất nhất gia đình phải báo cáo


cho tôi.


Đầu óc Lan đột nhiên sưng tấy lên. Anh thầm


nghĩ: “Chúng nó không muốn cho mình sống. Không


được làm. Không được ăn. Thậm chí đi tù còn phải


chờ đợi. Chúng mày muốn ta chết ư? Được rồi… ta


sẽ liệu …”


Tay Lan run lên. Đầu óc anh ù đi. Anh không


nghe thấy họ léo nhéo nữa. Chợt có tiếng chân


người… à, tiếng giầy. Đúng là tay công an đang đi


xuống bếp. Hắn xuống gặp ta… chắc là để đe doạ, để


răn dạy… Lan thầm nghĩ nhanh. Mắt anh đảo quanh;


đôi mắt dừng lại ở con dao phay cài trên trạn. Lan


xô lại, cầm lấy, và đứng nép sau cửa ở tư thế chờ


đợi…


Tiếng chân to dần, rồi người thanh niên mặc áo


vàng xuất hiện giữa cửa.


Lan xồ ra, vung dao, xả mạnh. Anh công an ôm


mặt thét lên:


- Ối các ông các bà! Thằng Lan giết tôi.


Sát nhân giả tử! Lẽ dĩ nhiên, Lan phải ra pháp


trường đền tội.


Hôm ấy, bãi bắn làng tôi đông nghịt. Từ ba giờ


sáng, dân làng đã í ới gọi nhau, đi trước tranh chỗ


ngồi tốt để xem cho rõ.


Lần đầu tiên, ông Tí giò cảm thấy hồi hộp khi


chứng kiến một con người đi đến cái chết.


Từ trên xe hòm bước xuống, Lan đã lấy vai gạt


mạnh hai người công an đi kèm định sốc nách anh.


Tay bị trói, anh điềm nhiên đi đến chiếc cọc.


“A! Thằng này không khuỵu chân. Tay cứng


đây. Nó đi đứng đàng hoàng, chứ không để người ta


kéo lê đi như những phạm nhân khác.”


Tí giò nghĩ như vậy. Tí giò càng ngạc nhiên


hơn khi thấy Lan vừa đi vừa nói, vừa đi vừa kể tội


những người đã xô đẩy anh đến cái chết.


Rồi Lan hét to:


- Tôi bị oan! Đồng bào hiểu cho tôi. Tôi bị


oan! Oan ức!


Đứng trước cây cột, Lan vẫn sa sả nói. Khi Tí


giò siết chặt chiếc lạt buộc tay Lan vòng qua chiếc


cột, rồi lại dùng mấy chiếc lạt dài khác buộc người


Lan vào cột như người ta bó giò, thì Lan rãy rụa.


Hắn rãy rụa cuồng nộ đến nỗi chiếc khăn đen bịt mắt


tử tù cũng phải tụt xuống. Anh chỉ huy ra lệnh:


- Ông Tí! Hãy bịt mắt nó lại.


Tí chợt nhìn thấy đôi mắt Lan, ông rùng mình.


Chưa bao giờ ông gặp những con mắt sáng đến như


vậy. Long lanh giận giữ. Sáng quắc như được nạp


một dòng điện siêu nhiên. Rồi Lan bậm môi nhổ vào


mặt Tí:


- Đồ tể! Mày là thằng đồ tể. Chết đi, hồn tao sẽ


hiện về bóp cổ mày.


Ông đại uý ra lệnh:


- Ông Tí, bịt mồm nó lại.


Tí run run lấy miếng vải đen quấn ngang qua


mồm Lan rồi buộc vào chiếc cọc. Lan vẫn rãy rụa


nên mảnh vải không tài nào buộc chặt lại được. Lan


gầm to:


- Đồ tể! Giết người! Đồ tể! Giết người!


Ông đại úy lại ra lệnh tống giẻ vào mồm Lan.


Lan dùng lưỡi đẩy miếng giẻ ra, nên khi ông đại úy


đang đọc bản án, hắn lại tiếp tục rủa xả. Thế này


thật chẳng còn ra thể thống gì nữa. Ông đại úy tức


giận chạy đến tát vào mồm người tử tù. Lan vẫn nói


không ngừng.


Tí giò đứng đấy, mồ hôi vã ra như tắm. Lần


đầu tiên, ông chuyên gia trói buộc này bỗng thấy hai


bàn tay mình run rẩy. Nhưng, một sáng kiến về trói


buộc bỗng loé nở trong óc. Tí chạy ra lấy chiếc dây


cao su buộc hàng đằng sau xe đạp. Ông kêu to khoái


trá:


- Đây rồi! Đây rồi! Lần này thì mày phải câm


miệng.


Tí cầm chiếc dây cao su quấn ghì đầu Lan vào


chiếc cọc tre. Ông vòng dây cao su ngang mồm Lan;


Lan há mồm định nói, nhưng chiếc dây đã lanh lẹn


ngáng qua, chịt hàm răng lại. Quấn hai vòng cao su


xong, Lan bặt nói, nhưng chiếc khăn đen bịt mắt lại


tụt xuống. ánh mắt lúc này còn sáng quắc hơn lần


trước. Có lẽ bị bịt hết cửa biểu hiện rồi, nên toàn thể


tinh lực căm giận phải tuôn trào hết ra ánh mắt. Tinh


lực ấy làm ngầu đôi mắt, nó đẩy hai nhãn cầu lồi ra


phía trước.


Tí bỗng lạnh toát từ đầu đến chân. Ông vẫn đọc


thấy trong đôi mắt ấy lời chửi rủa hận thù:


- Chết! Hồn ta sẽ hiện về…


Tí run rẩy sợ hãi. Ông liền vòng ngay một vòng


cao su qua đôi mắt quái đản ấy, để khép kín vĩnh


viễn chúng khỏi cuộc đời.


Tiếp đó, những phát đạn nổ ròn…


Máu ở tim Lan vọt ra rất mạnh. Lan giật lên


từng hồi, giật rất lâu. Tí thầm nghĩ: “Cả đến cách


rãy chết của thằng cha này cũng mang lời oán hận.”


Và ông chợt nghĩ thầm: “Hay là nó oan thật sự?”


Phát súng nhân đạo đã bắn vào thái dương người


tử tù. Bác sĩ pháp y ra khám nghiệm, tuyên bố phạm


nhân đã chết hẳn. Tí làm nốt công việc cuối cùng.


Ông mệt mỏi cởi sợi dây cao su chằng mồm và mắt


Lan. Đôi mắt vẫn mở trừng trừng oán hờn khiến bàn


tay Tí giò càng thêm lẩy bẩy. Khi ông cắt nốt chiếc


lạt cuối cùng, ông vụng về đến nỗi cắt cả một mảng


da ở cổ tay phạm nhân. Xác chết không còn gì trói


buộc nữa, đổ gục xuống tấm ván nắp áo quan đã để


sẵn dưới cọc tre. Hai người khiêng cái nắp áo quan;


Tí giò đi sau còn trông thấy hai bàn tay người tử tù


vẫy theo nhịp đi. Quái quỉ thật! Bàn tay ấy như vẫy


gọi Tí.


“Hai ba… nào” – Tí giò hô to và hất xác chết


xuống áo quan đã đặt sẵn dưới huyệt. Cái xác chết


lúc này lại được lật ngửa lên. Đôi mắt lồi ra khỏi hố


mắt mầu trắng dã của kẻ tử tù lại có dịp được nhìn


vào mặt Tí giò. Nhìn chằm chằm như chiếc máy ảnh


muốn chụp lại khuôn mặt hoảng hốt của Tí.


Tí nghĩ thầm: “Trời ơi! Đôi mắt ấy vẫn còn


sống. Nó chớp chớp và nó đe doạ”


Tí vội vàng vứt nhanh chiếc nắp áo quan xuống


để khỏi phải nhìn thấy đôi mắt ma quái ấy. Rồi ông


xúc đất, xúc vội vàng, lấp qua loa, để gọi là có một


nấm mồ.


Sau hôm xử bắn Lan, Tí giò thấy trong người


khó chịu. Rồi Tí giò mất ngủ, mất ngủ liên miên. Hễ


lúc nào nhắm mắt, là đôi mắt trắng dã của kẻ tử tù


dưới mộ lại hiện ra trước mắt Tí. Đôi mắt ấy đang


báo thù. Nó không cho Tí ngủ, vì hễ ông nhắm mắt


lại là lập tức nó hiện ra.


Tí mất ngủ đến hàng tháng trời. Người vêu vao


phờ phạc. Tí tìm cách chợp mắt để lấy lại sức khỏe.


Anh ngủ ban ngày, và ngủ ngồi. Anh trốn chạy đêm


tối, vì nghĩ rằng chỉ đêm tối hồn mới hiện về. Nhưng


chỉ được hai hôm. Đến hôm thứ ba, dù ngủ ngày và


ngủ ngồi đôi mắt trắng dã căm thù vẫn cứ hiện về.


Tí nghĩ: “Mày định chọi với tao à? Tao phải


chọc mù hẳn đôi mắt trắng dã của mày”


Một tối chờ dân làng ngủ yên hết cả, Tí cầm


chiếc thuốn đi ra bãi bắn ven đê. Ông tìm đến mộ


của tử tù Lan. Và ông cứ nhằm phía đầu mồ mà


thuốn, mà đâm. Sức mạnh phi thường của Tí làm tan


cả mảnh ván thiên. Tí thúc thanh sắt vài lần nữa, thì


chiếc thuốn sọc ngay vào đầu tên tử tù. Chắc là vậy,


bởi vì Tí cảm thấy thanh thuốn chạm phải một vật gì


cứng. Sự va chạm ấy phát ra một âm thanh khô khốc,


lạnh lẽo. Tí thầm nghĩ: “Phải chọc tan chiếc đầu lâu


của mày ra.” Bằng động tác giã giò, Tí kéo lên thọc


xuống, cho đến lúc tay ông có cảm giác lạo xạo của


chiếc đầu lâu bị vỡ vụn.


Khoan khoái, hả hê, Tí rút thuốn lên. Đột nhiên,


một luồng khí xanh lè phì ra từ lỗ thuốn. Tí không


tránh kịp, luồng khí phụt luôn vào mặt.


Tí rú to, vứt thuốn, ôm lấy bộ mặt lạnh toát của


mình. Rồi, sợ hãi quá, Tí cắm đầu cắm cổ chạy.


Luồng khí xanh lè ấy đuổi theo anh như một bóng


ma. Và văng vẳng có tiếng người tử tù thét lớn:


- Tao sẽ giết mày… Đồ tể!


Đêm ấy, Tí lên cơn sốt cao. Sau khi khỏi sốt,


người ta thấy ông thường xuyên lấy hai ngón tay bịt


hai lỗ tai, bởi vì tiếng nói của người tử tù luôn vang


trong óc ông để đe doạ.


Giai đoạn trước, thỉnh thoảng có đêm Tí chợp


mắt được ít tiếng. Giai đoạn này, Tí hoàn toàn mất


ngủ.


Đêm đêm, ông như một bóng ma lang thang


khắp làng. Có đêm người tuần nông gặp ông ta quì


trước mộ người tử tù và van lạy:


- Tôi xin anh buông tha. Tôi có giết anh đâu.


Một luồng khí xanh lơ từ mả bốc lên và có


tiếng người văng vẳng:


- Anh chối sao được. Anh là đồ tể. Nghề của


anh mọi người đều biết. Xoá đi cũng chẳng nổi.


Giai đoạn cuối cùng, không những Tí luôn luôn


nghe thấy tiếng người tử tù, mà ông còn trông thấy


cả bóng người săn đuổi mình. Có đêm, Tí chạy rầm


rầm ngoài đường, rồi bất thình lình vội vàng nép vào


một bụi cây, một đống rơm, hoặc một nơi bẩn thỉu


tối tăm nào đó. Ban ngày, Tí quên ăn, quên uống,


luôn lắp bắp lạy van, và thích thu hình rúm ró ở


những xó buồng xó bếp.


Cuối cùng, Tí bỏ làng đi mất trong một đêm


mưa phùn, để rồi mấy hôm sau lại trở về nghĩa địa


tử tù và chết cong queo bên một gốc phi lao.


Đêm nay, tôi lại gặp vong hồn Tí ở pháp


trường. Mặc dù Tí đeo một màn sương, tôi cũng


nhận ra người đồ tể với số phận bi thảm ấy. Tí cũng


nhận ra tôi. Bây giờ, giọng điệu của anh không còn


vẻ lên mặt nữa; anh đã chuyển sang tâm sự buồn rầu.


- Anh Hoàng ạ, chết rồi mà tôi vẫn khổ.


- Chết còn biết khổ sao?


- Người chết tức là người được nghỉ ngơi vĩnh


viễn. Chỗ ở của người chết bao giờ cũng là một khu


rừng yên tĩnh, ở đó chỉ có tiếng ru lá và tiếng chim


véo von. Đằng này, cái chết của tôi là chết lang


thang. Tôi vẫn mất ngủ. Đêm đêm, tôi vẫn là một


linh hồn cô đơn đi vật vờ ở bãi pháp trường hoang


lạnh này.


Tôi mỉm cười:


- Tưởng anh phải được vào xứ thiên đàng.


- Anh định nói rỡn một con người thảm hại như


tôi sao? Đến địa ngục, người ta cũng chẳng cho tôi


vào, vì ở đó chỉ tiếp nhận những con người bình


thường ở thế gian.


- Vậy, ra anh là một con người không bình


thường?


- Đúng thế, tôi là người làm nghề trói buộc.


Trước kia, tôi hãnh diện với cái nghề ấy biết bao…


Thật không ngờ, vì nó mà tôi không được lên thiên


đàng, cũng chẳng được xuống địa ngục. Ôi chao!


Sao tôi thèm được nằm dài yên tĩnh trong một nghĩa


địa êm ả nào đó. Không một nghĩa địa nào thu nhận


tôi. Người ta bảo kiếp của tôi là kiếp một ông thày


tu cô đơn lang thang.


- Vậy thì ông hãy lang thang bằng đôi chân


của mình… Cớ sao anh còn lảng vảng ở nơi khủng


khiếp này?


- Tôi sợ hãi sự lang thang cô đơn lắm rồi.


Tôi… Tôi… phải chờ ở đây để gặp những người tử


tù đã bị tôi trói buộc, để van xin họ cho linh hồn tôi


được nghỉ ngơi. Kìa! Đã sắp sáng những hồn ma sắp


trở về đón bình minh, rồi chui xuống mồ…


Tôi quay lại phía sau lưng, thấy những bóng


trắng chập chờn đi lại. Tí giò quì xuống:


- Anh Lan! Tôi van anh, hãy giải lời nguyền thù


oán cho tôi. Hãy cho tôi sự yên tĩnh. Hãy cho tôi


giấc ngủ.


- Ta đâu có quyền gì. Tội của ông là vậy, ông


phải nhận hình phạt là vậy.


- Tôi có giết anh đâu.


- Khác gì giết. Sao ông trói mồm tôi lại, khi


tôi muốn kêu than? Sao ông trói mắt tôi lại, khi tôi


muốn nhìn cuộc đời. Ông có quyền gì mà tự cho


phép được trói mắt, trói mồm con người lại?


- Kìa, cô Huệ. Cô làm ơn nói giúp hộ tôi.


- Làm sao nói được, khi ông chẳng một chút


nới tay, khi tôi van xin ông cởi trói để tôi ôm con tôi


và cho con tôi bú.


- Anh Thái! Em van anh nghĩ đến tình đồng


đội khi xưa.


- Ta giúp anh nhiều quá rồi. Ta dìu dắt anh,


dậy anh học, giúp anh cách làm việc. Chính những


người như ta đã tin anh, đã đưa anh lên những địa


vị, để rồi cuối cùng nhận những lưỡi dao xoáy thẳng


vào tim.


- Các người không tha thứ cho ta sao?


- Tha thứ sao được. Hãy cứ để cho anh cô đơn


và lang thang, để làm bia, làm gương cho thiên hạ.


Ta biết anh quỉ quái lắm. Anh đã chết rồi, nhưng còn


con anh, còn cháu anh, còn họ hàng nhà anh vẫn nằm


trong ngôi vị làng xã. Anh vẫn truyền di lại cái chất


đồ tể của anh cho họ. Phải cho họ nhìn thấy cái kiếp


đồ tể sẽ là như thế.


Tôi xen vào cuộc đối thoại;


- Ông hương sư ơi, ông phải giúp hắn, bởi vì


chính ông phải chịu trách nhiệm về những hành vi


của hắn.


- Sao? Trách nhiệm ư?


- Chính vậy, vì ông là người thầy.


- Ta chỉ dạy những điều tốt đẹp.


- Ông đã dạy hắn phải biết tàn nhẫn.


- Ta đâu có dạy điều đó.


- Không nên chối. Lão Quản Hưng là bác ông,


chính ông đã lập kế hoạch giết Hưng, đã chỉ vẽ cho


Tí giò về đặc tính của chánh Hưng, do đó hắn mới


biết cách phục kích lão ta ở trong chuồng lợn. Nếu


không có kế hoạch của ông, khó ai có thể giết được


lão ta.


- Chánh Hưng là kẻ thù, tất yếu phải giết. Còn


ta, ta là đồng đội của hắn, tại sao hắn giết nốt cả ta?


- Ông quên rồi sao? Ông dạy Tí phải biết cảnh


giác, phải nghi ngờ ngay cả những người thân thiết


nhất của mình. Chính ông đã nói, trong những bước


ngoặt lịch sử có thể đồng đội của ta lại trở thành kẻ


thù. Cũng chính ông đã nói: hễ là đối lập thì không


thể tồn tại.


- Anh Hoàng, anh thật quỉ quái. Anh đổ mọi tội


lỗi lên đầu ta. Chẳng lẽ cái việc gạt bỏ những người


họ Phạm ra khỏi quyền lực cũng do ta dạy cho Tí


giò?


- Chứ sao! Xưa kia, ông đã bao nhiêu lần nói


tới cái sức mạnh của số đông phe cánh. Không có số


đông phe cánh thì ta không thể làm nổi một việc gì ở


thời đại này. Có một điều ông không dạy bằng lời


nói: đó là sự khát khao quyền lực. Nhưng chính ông


đã làm điều đó rất có ý thức. Và Tí giò đã lặp lại


cách sử dụng quyền lực của ông. Sự khát khao quyền


hành là động cơ kỳ diệu, nó giúp con người làm nên


kỳ tích, nhưng khi cực đoan nó cũng biến thành


người đao phủ. Ông hương sư ơi! Chính vì vậy nên


tôi nói rằng ông phải chịu trách nhiệm về hành động


của bác Tí giò.


- Không phải ta dạy Tí giò điều đó. Chính lão


Hương Tẹo mới là thầy dạy Tí giò. Có đúng không


hả ông Tí?


Từ nãy Tí vẫn đứng ngẩn nghe tôi và Thái đối


thoại, lúc này ông ta như tỉnh ngủ. Ông tần ngần trả


lời:


- Thưa, cả anh Thái, cả cụ Hương Tẹo… cả hai


người đều là thày dạy của em. Bây giờ em hiểu ra


điều đó.


Thái giơ tay lên, kêu to, phản đối:


- Các người vu oan cho ta. Đây các người hãy


nhìn xem: bàn tay ta sạch sẽ; trái tim ta trong trắng;


tâm hồn ta tốt đẹp.


Lan, người tử tù bỗng cười lên sằng sặc:


- Các người ơi! Đừng chơi trò giả dối. Trắng


ư? Đen ư? Tội lỗi dù trắng hay đen vẫn là tội lỗi.


Tôi là một người đã bị dồn đến chỗ giết người, rồi


lại bị người khác giết mình. Tôi chắc hiểu được thế


nào là lưỡi dao đâm thọc vào tim. Không nghi ngờ gì


nữa! Khi ta để một con người gục xuống, thì dù ta là


đồ tể, dù mượn tay người khác làm đồ tể, cũng


không thể nào bào chữa được.


Có tiếng gà gáy dồn; và thấy những tia sáng


đầu tiên nhô lên ở đằng đông. Những bóng ma bồng


bềnh bỗng tan biến đi cùng những màn sương trắng.


Tôi nhìn chiếc cọc tre đen sì cắm vào lòng đất


phù sa, chợt có cảm giác như một chiếc đinh khổng


lồ cắm vào trái tim mình.


Tôi chợt bùi ngùi cúi xuống, vục tay bốc lên


một nắm đất phù sa và than van:


- Đất quê ơi! Với ông hương sư Thái và lão


Hương Tẹo làm thày; không hiểu rồi đất quê ta sẽ từ


mầu hồng biến sang mầu gì nữa?


Tôi chợt nảy ra một ý định rồ dại. Tôi chạy lại


gần một chiếc cột đen sì, và lay, và đẩy. Phải nhổ


cái đinh gớm ghiếc ấy đi!


(còn tiếp)


Nguồn: Trư cuồng. Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »