Tí không nói gì. Anh chỉ im lặng nghe Thái. Tí
rất thông minh. Anh đọc thông viết thạo, biết làm
bốn phép tính sau một năm học Thái. Chính lúc đó,
xã được giải phóng. Tiếp ngay sau đó, hoà bình lập
lại… Pháp rút quân… rồi cải cách ruộng đất.
Anh đội trưởng cải cách bắt rễ ngay vào Tí, từ
lúc mới về làng. Cuộc cách mạng nông thôn tiến
hành được chừng một tháng. Đó là giai đoạn gay go
quyết liệt nhất. Tí họp hành liên miên suốt đêm
ngày. Lên hồ sơ đối tượng… Rà xét từng gia đình…
Truy tìm gốc gác từng người… Phải xác định những
tên đầu xỏ… Tổ chức tố khổ… Tổ chức toà án… Tí
như lâng lâng… Một cái gì đó mới lớn lên trong
lòng anh. Cảm giác như đang bay trên chín tầng
mây. Vừa thấy lo lo vừa thấy khoái trá… Tại những
đêm mất ngủ chăng? Tại cái quyền năng vô biên như
có phép thần bỗng rơi vào tay anh chăng? Kỳ lạ thật!
Một con người như mình, đột nhiên từ ông già có
râu cho đến đứa trẻ nít ai ai cũng vì nể. Sao họ chào
anh cung kính đến thế? Thậm chí đến nhìn, họ cũng
chẳng dám nhìn thẳng vào mắt anh. Và bỗng dưng,
anh bỗng nói được những câu văn rất hùng hồn, và
giọng nói của anh cũng bỗng trở nên lưu loát. Ai
nghe anh nói chuyện cũng khen hay. Trong một cuộc
mít tinh, Tí nói dõng dạc:
- Hôm nay là ngày hội, ngày đại hội. Chúng ta
đang vùng lên, để xây dựng một lâu đài vinh
quang…
Trong giai đoạn quyết liệt ấy, một hôm. anh
đội trưởng cải cách họp riêng với Tí. Anh đội bảo:
- Đồng chí cùng nghiên cứu với tôi xem sao.
Trên bảo rằng ở xã ta dứt khoát có tổ chức Quốc
Dân Đảng. Vậy những ai là Quốc Dân Đảng? Và tên
đầu xỏ ở đây là ai?
- Thưa anh đội, em không biết.
- Thử nghĩ kĩ xem có hiện tượng gì khác lạ
không? Bọn Quốc Dân Đảng thường bắt rễ vào bọn
hương lý…
- Hương lý?… Dạ, thằng chánh tổng Hưng thì
chính tay em giết… Thằng lý Tiến thì ta mới bắn…
Lão phó hội Trạch, ta bắt giam… Còn lão Hương
Tẹo lão chú độc ác của em, lão ta chỉ ôm cái bàn đèn
… Thưa anh, thế là điểm hết mặt bọn hương lý ở đây
rồi ạ.
- Còn chứ… còn chứ. Chúng còn bắt rễ vào bọn
trí thức nữa. Anh thử nghĩ xem, ở làng này ai là trí
thức, là có học?
- Thưa anh, bọn trí thức có thằng Ký Bốn,
nhưng hắn ta ở Hà Nội từ bé, mỗi năm về làng có
một lần vào ngày giỗ tổ họ Lê; bọn tham Tùng, phán
Thiệp đều đã di cư vào Nam…
- Thử nghĩ kỹ thêm xem bọn trí thức ở đây còn
ai nữa không?
- Dạ, dạ… chỉ còn…
- Còn ai?
- Còn anh Thái, anh ấy là hương sư… nhưng
anh ấy đi theo kháng chiến, lại là lãnh đạo.
- Đó, đó… chính đó mới là chỗ hiểm. Bọn
Quốc Dân Đảng lợi dụng ta sơ hở, đã chui vào tổ
chức của ta, leo lên những địa vị chủ chốt.
- Thưa, thưa anh…
- Còn thưa gửi cái gì nữa… Trên rất nghi ngờ
thằng này, nhưng nó rất khôn ngoan, ta cần phải tìm
đủ bằng chứng. Tôi nói dứt khoát thằng Thái là
Quốc Dân Đảng. Anh thử nghĩ lại, nhớ lại… xem nó
có những hành động gì lén lút không?… Ví dụ nó
thầm thì với ai?… Nó hội họp bí mật ở đâu?… Nó…
- Dạ, anh Thái…
- Anh gì? Gọi nó là thằng.
- Dạ, thằng Thái có lén lút thật. Nó lén lút với
anh Phòng, chủ tịch xã.
- Cả thằng Phòng cũng một duộc.
- Dạ, em hiểu rồi… Thằng Thái, thằng Phòng
cùng với thằng Nam. Cả thằng Nam này cũng ghê
gớm; nó trạc tuổi em ra Hà Nội học tú tài. Nó về
làng bảo trốn Tây động viên bắt lính. Thằng Thái
cho nó làm thư kí uỷ ban. Hoá ra, cả một dây từ Hà
nội về đến quê. Chúng nó vẫn thì thụt gặp nhau ở
chùa ông Cụt giữa đồng. Người ta bảo rằng chúng đi
họp chi bộ cộng sản, nhưng thực ra chúng đã lừa dối
nhân dân. Chúng là bọn Quốc Dân Đảng đội lốt
Cộng Sản. Chúng đã chui vào bên trong tổ chức của
ta để phá ta.
Anh đội cải cách reo lên:
- Đúng, đúng như thế đó… Anh Tí ạ, anh rất
thông minh.
Một ngày hội. Đúng là một ngày hội.
Rộn vang khắp làng tiếng trống ếch, tiếng hô
khẩu hiệu của thiếu nhi đi cổ động. Trống to thì
thùng ngoài bãi. Dân làng nô nức túa ra đường làng,
kéo nhau ra bãi. Người ta thì thầm với nhau:
- Hôm nay đấu gục tên phản động đầu xỏ.
- Ai?
- Tên Thái.
- Toà án nhân dân xử tội?
Mắt người trả lời bỗng sáng lên:
- Xử bắn!
Xử bắn bao giờ cũng là một quang cảnh cực kì
kích thích. Người ta sợ, rợn, nhưng tự đáy thẳm ai
cũng muốn xem tận mắt. Ai cũng có ý nghĩ ấy,
nhưng chẳng ai thổ lộ với ai. Đội thiếu niên nhi
đồng không em nào vắng mặt. Những chú bé bẩy,
tám tuổi chưa được vào đội nhi đồng cũng trốn nhà
ra bãi đầu làng, ở đấy người ta dựng sẵn một cây
thập ác bằng tre.
Đấu, tố, trỏ mặt, giậm chân, mặt mũi đỏ bừng
sầm sầm, nộ khí xung thiên, la hét… Có những
người khóc nấc lên rồi ngất đi vì xúc động.
Vài phút lại vang lên những tiếng hô dậy trời
“đả đảo”. Người ta hô đến khản cả tiếng. Có người
khản đặc, tiếng nói phào phào…
Bãi bắn đông nghịt những người. Cờ, khẩu hiệu
đỏ chói. Chỗ ngồi của bà chánh án cao vút, uy nghi.
Người nào cũng sáng mắt nhìn ra phía trước, nhưng
không phải nhìn vào án đài, mà nhìn vào cây thập
ác.
Người chỉ huy đội bắn cao to lẫm liệt, đang
hùng dũng bước ra. Người ta xì xào: “Ông Tí giò.”
Cái vóc dáng khổng lồ của Tí giò càng làm thần kinh
người dự xem thêm căng. Tí giò đứng ngẩng cao
đầu, tay trái chống cạnh sườn, tay phải chỉ vào mặt
Thái lúc này đã bị trói chặt vào cột.
- Các đồng chí chú ý! Mục tiêu: Tên phản động
trước mặt. Tư thế: đứng chuẩn bị bắn.
Thày giáo Thái lồng lộn, vùng vẫy. Người xem
thì thào:
- Ông Tí giò đã trói bằng lạt tre tươi lột lấy cật
rồi đem nướng lửa. Có đến hổ bị ông Tí trói cũng
chịu cứng, nữa là lão Thái gày gò. Rẫy rụa chỉ tổ sầy
vẩy, cũng chẳng nước mẹ gì.
Tí mỉm cười, nhìn con mồi của mình đang tuyệt
vọng lồng lộn. Chờ cho đến lúc Thái quá đau đớn
mệt mỏi, anh đứng im thở hồng hộc, lúc đó Tí giò
mới hô: “Chuẩn bị bắn”.
Ba anh du kích đứng gié chân chèo, bắt đầu lên
đạn và nhằm súng vào cái vóc người gầy gò thảm hại
bị buộc giăng tay vào cây thập ác. Con người chịu
khổ nạn ấy không rãy rụa nữa. Cũng may, đôi con
mắt bị buộc chiếc khăn vuông đen nên anh đã không
phải chứng kiến những khuôn mặt người bị méo mó
đi vì khoái trá, vì căm giận. Họ căm giận anh thực
sự. Anh không trông thấy nhưng anh nghe thấy
những tiếng hò hét, những tiếng rì rầm của họ thì
anh hiểu. Anh cảm thấy thương hại sự vô ơn của
những con người ấy. Chính vì những con người ấy
mà bao năm nay anh lăn lộn xả thân…
Tí cố để cho cái phút chuẩn bị, chờ đợi chết ấy
hơi kéo dài. Nhưng không sao! Tí đã mơ hồ cảm
thấy tâm lí của người đi xem xử tử. Hình như mọi
người đều muốn cái phút chờ đợi ấy kéo dài.
Trong khi ấy, Thái mê man đi cùng bao suy
nghĩ. Đáng lẽ ra lúc ấy anh phải kêu lên những tiếng
kêu uất hận, cũng có thể những tiếng kêu oan ức.
Đằng này Thái lại bật lên một tiếng hô làm cả pháp
trường bỗng ngỡ ngàng Anh rướn cổ lên và hô to:
- Đảng cộng sản muôn năm!
Có lẽ vì Thái hô to quá, kỳ dị quá, nên khi Tí ra
lệnh: “Bắn”, ba anh du kích bỗng run tay. Một anh
bắn trượt, một anh bắn trúng tay, một anh bắn sượt
má Thái. Tí bực bội gầm lên:
- Hãy để hắn cho tôi.
Và Tí đã dũng mãnh xông lên, rút con dao đồ tể
mỏng hình lá lúa mà anh thường giắt bên người.
Bằng một đường dao chính xác, ngọt ngào, anh đã
đâm từ cổ thọc xuống tim người đội trưởng du kích,
người dẫn đường anh khi xưa.
Thái ngoẹo đầu xuống, hình dáng hệt như chúa
Jesus chịu nạn.
Lúc chết, mắt Thái vẫn mở to. Đôi mắt như ngơ
ngác, như băn khoăn, như bàng hoàng, vì chưa hiểu
ra một điều gì đó thật kì quái.
Khi Tí rút con dao lá lúa ra, dòng máu ở cổ Thái
vọt dài. Người đi xem nhiều kẻ tay run cầm cập,
nhưng mắt vẫn sáng quắc. Có người còn nuốt nước
bọt.
Riêng anh Tí giò, tối hôm ấy, anh xách con cá
quả to bằng bắp chân về nấu ám. Tí uống rượu cùng
đội trưởng cải cách. Anh còn vui vẻ hát cho anh đội
nghe một câu hát xưa rất thú vị
Vô phúc lấy phải học trò
…
Thình thùng thình…
Cô Phốp, cô gái to béo đa tình ở đội du kích
năm xưa đi qua ngõ nhà Tí, bỗng nói vọng vào, khen
ngợi:
- Giọng anh Tí hát hay quá!
Khi sửa sai, ông Hương tẹo được xuống thành
phần trung nông lớp trên, còn anh Thái được phục
hồi danh dự. Nhân dân lúc này sì sào về Tí giò,
nhưng đồng chí cán bộ sửa sai giải thích:
- Có sai lầm, nhưng phải hiểu cải cách ruộng
đất thắng lợi là cơ bản… Còn các đồng chí cán bộ
cốt cán, về cơ bản cũng là những con người rất tốt;
họ vẫn là chỗ dựa của Đảng. Sửa sai cốt để đoàn kết
nông dân, chứ không phải để hục hặc lẫn nhau. Phải
đoàn kết giữa các đồng chí cũ và mới. Phải hiểu rằng
các đồng chí cốt cán rất triệt để cách mạng. Họ sai
bởi vì họ quá triệt để. Nhưng, triệt để cách mạng là
một phẩm giá cao quí nhất.
Dĩ nhiên, Tí là người triệt để cách mạng, vì
vậy người ta muốn đưa anh lên làm chủ tịch xã. Tí
khiêm tốn:
- Tôi không làm chủ tịch được đâu. Xin cho tôi
làm việc khác.
- Việc gì?
- Cho tôi làm trưởng công an xã.
Ngày xưa, anh Thái đã phát hiện ra năng khiếu
ấy của Tí. Tí, qua kinh nghiệm giết lợn của mình, đã
hiểu rằng người nào nắm quyền sinh quyền sát là
người ấy có quyền to nhất. Ông chủ tịch xã quyền có
to, nhưng là quyền giả tạo. Chính chánh công an xã
mới là người quyền to nhất, bởi vì ông ta có quyền
theo dõi mọi người, có quyền dùng tiếng nói của
mình để buộc tội hoặc tha người. Tí đã có thêm một
kinh nghiệm mới: giết người bằng dao là khó, nhưng
giết người bằng ba tấc lưỡi còn khó hơn nhiều, bởi
vì nó sạch sẽ hơn, tinh vi hơn, bí mật hơn, sâu hiểm
hơn. Đó là kinh nghiệm ông Hương tẹo đã truyền
cho Tí.
Khi ông Hương tẹo được xuống thành phần, Tí
giò có vẻ ngượng ngùng, không dám dàn mặt ông
chú. Nhưng ông Tẹo là người từng trải, khôn ngoan.
Chính ông đã tự mình đến gặp người cháu. Ông nói:
- Cái chuyện cải cách, chú có giận anh. Giận
nhưng lại mừng. Mừng vì anh hiện nay giữ một chân
quan trọng nhất xã. Anh đã làm rạng danh cho họ
Nguyễn nhà ta. Thử hỏi, hiện nay trong họ Nguyễn
ai quyền cao chức trọng bằng anh? Xưa kia, hồi
Pháp, chức tước cao nhất trong họ là chú cũng chỉ
giữ được chân hương trưởng. Này, này… mày đừng
có coi thường lão cường hào già này nhé. Ngày xưa,
chánh tổng lý trưởng của cả vùng này đều phải châu
đầu quanh cái bàn đèn của tao. Trong huyện, người
ta gọi cái bàn đèn của tao là trường học tổng lý đấy,
con ạ.
- Bây giờ, thời buổi có khác chú ạ.
- Khác cái gì? Vẫn luỹ tre, vẫn con trâu, vẫn
họ hàng làng mạc cũ, vẫn những con người xưa, vẫn
những tục lệ xưa. Cái khác là tên gọi mới: ví dụ
chánh tổng người ta gọi là chủ tịch… Tức là con
người đã khôn ngoan hơn… Không ai dùng ba toong,
cặc bò như xưa nữa, mà dùng những lời ngọt ngào
đường mật để thít chặt con người lại. Cậu đã hiểu
chưa.
Tí không cãi lại, cũng không tỏ ý tán thành, anh
ta cứ lửng lơ, và lặng yên suy nghẫm. Việc ông Tẹo
lấy lại cái nhà gạch của ông đã chia cho Tí cũng rất
khéo léo. Một hôm, ông nói chuyện với cháu:
- Chú có thể cho anh cái nhà của chú. Nhưng,
như thế, về sau con chú và anh lúc nhìn mặt nhau nó
vẫn có điều hận. Chi bằng chú đưa cho anh ít tiền,
và cứ nghe lời quân sư của chú, khắc là anh có nhà.
Này nhé… đất, ta xin xã; chọn miếng đất thật nục
nạc, thật đẹp, có tiền, có hậu, rộng gấp đôi gấp ba
của chú thì hãy xin. Có cơ hội, đã xin phải xin cho
nó xứng. Còn gạch ngói, công sức ta nhờ dân làng,
nhờ bọn đàn em trong làng. Mày cứ nhấp môi một
tiếng, khắc có đứa tự nghuyện đến làm giúp. Còn
tiền nung gạch, chi phí, tao trả. Bụi tre trong vườn
thì ngả xuống ngâm làm đòn tay…
- Cháu sợ người ta nói ra nói vào.
- Đứa nào dám nói? Giúp ông chánh công an
nghèo, đó là cái nhiệm vụ. Vả lại mình vẫn cho họ
ăn uống đàng hoàng. Rượu, tao cho nồi gạo mà nấu.
Cá mua rẻ của xã… Lợn, vay của xã… Vài năm sau
sẽ trả…
Thế là Tí có ngôi nhà gạch năm gian đàng
hoàng. Và từ đấy, chú cháu lại trở nên tâm đắc. Dần
dần bên mâm rượu, bên ấm trà, ông chú đã nghĩ ngợi
và truyền lại hết cái nghề chăn dân của mình cho
ông cháu:
- Nông thôn ta không gì bằng họ hàng. Phải
lấy họ hàng làm cái gốc, làm vây cánh. Phải gây
dựng cho anh em, con cháu trong họ.
- Gây dựng bằng cách nào?
- Đưa dần con cháu, họ hàng mình vào Đảng,
vào các chức vụ quan trọng. Trong họ phải có đứa
làm chủ nhiệm, làm bí thư thanh niên, làm đảng uỷ
… Vây cánh mình mạnh, tức khắc các họ khác phải
nem nép nghe theo mình. Việc ấy phải làm lâu dài,
phải năm năm, mười năm mới xong.
Ông còn dạy cháu những đòn hiểm hơn.
- Hiện nay, trong xã họ Phạm đang chiếm hết
ghế chủ chốt; chủ tịch, chủ nhiệm, thanh niên, đảng
uỷ, họ đều nắm cả. Ta phải liên kết với họ Trịnh, vì
họ Trịnh đang nắm chức bí thư. Phải ngọt ngào với
họ Phạm, nhưng phải luôn rình mò, nắm cho hết tội
lỗi của người họ Phạm. Cháu làm công an, cháu thừa
sức làm được điều đó. Con người đã làm việc bao
giờ cũng có sai lầm; hãy chờ một cơ hội lúc họ Phạm
mắc một lỗi lầm to lớn, thế nào cũng có cơ hội đó,
khi ấy ta tập trung khoét sâu tội lỗi và đánh đổ
chúng nó.
Tí đã thực hiện đúng cái ngón ”khoét dần đưa
dao vào tim” của ông chú. Anh lầm lì, ngọt ngào với
người họ Phạm. Đùng một cái, chủ nhiệm họ Phạm
thông đồng với thủ kho họ Phạm tham ô một tấn thóc
nếp bán cho tư thương. Tí đã gài người biết chắc giờ
giấc giao hàng, và đã bắt quả tang bọn tham ô. Tí đã
tập hợp được một đống tài liệu về những người họ
Phạm, mà anh đã rình mò tích tụ suốt năm năm liền.
Từ vụ ăn cắp một tấn thóc, anh đã cộng thêm vào
hàng trăm vụ việc khác. Lẽ dĩ nhiên họ Phạm bị
đánh đổ, mất gần hết các vị trí then chốt trong bộ
máy quyền lực. Chức chủ tịch và chủ nhiệm hợp tác
xã lập tức rơi vào tay những người họ hàng của Tí.
Ông Hương Tẹo uống rượu với chánh công an Tí
giò. Ông chú cười ha hả:
- Bây giờ cánh họ Nguyễn nhà ta mạnh nhất
làng rồi. Cậu cháu thấy mưu mẹo của ông chú ra
sao?
- Thưa, đúng là mưu Gia Cát.
- Hừ, anh tưởng chỉ riêng chú mới nghĩ ra được
những điều đó sao? Không, khắp nơi đâu đâu người
ta cũng làm như chú cháu ta cả. Vẫn là mưu mẹo
thời xưa thôi cháu ạ. Chú đã bảo thời bây giờ vẫn
giống thời xưa là như thế. Bình cũ rượu mới mà. ở
cái nước Việt Nam ta, trong bất cứ ai, cũng đều
chồm chỗm trong đầu một bộ óc kì hào quan lại. Gặp
dịp là ông kì hào nhỏm dậy ngay tức khắc.
- Đến cuối tiệc rượu, khi đã ngà ngà Tí hỏi
Hương Tẹo:
- Thưa chú, bây giờ cháu nên làm gì?
- Còn làm gì nữa? Cháu mất bao công sức, họ
Nguyễn nhà ta mới được như ngày hôm nay. Có công
thì có hưởng. Bây giờ việc của anh là sống sao cho
sướng. Bây giờ anh có làm voi làm chuột cũng chẳng
đứa nào dám hé môi.
Từ đó, Tí xoay ra nghĩ đến việc sung sướng.
Tí lấy vợ sau cải cách ruộng đất. Anh đội ghép
Tí lấy một cô cốt cán xã bên cạnh. Ai cũng bảo hai
người đẹp đôi. Đi đâu Tí cũng khoe:
- Vợ tôi là cán bộ phụ nữ.
Khoe là khoe ngoài miệng thôi, chứ thực trong
bụng, Tí rất bực bội. Có gì đâu, sở dĩ bực, vì vợ Tí
người gày khô. Theo quan niệm của Tí, người đàn bà
được gọi là đẹp, trước tiên người ấy phải béo. Quan
niệm thẩm mỹ ấy làm Tí nhiều khi cảm thấy mình
như bị mất mát một cái gì đấy. Tuy Tí đã lấy vợ hơn
chục năm rồi, mà anh vẫn mê mệt cái thân xác phây
phây của cô bạn du kích thời kháng Pháp. Kỉ niệm
về cái đêm trăng xưa, khi hát trống quân, cô gái ấy
ngửa mặt lên trời mà hát, luôn ám ảnh lởn vởn trong
tâm trí Tí. Anh thường nhìn mẹ Phốp và ao ước, tiếc
rẻ: ”Chính mụ ấy mới hợp mình. Đàn bà đôi vú thây
lẩy thế kia mới đáng gọi là đàn bà.”
Mỗi lần gặp Phốp, Tí giò lại hau háu nhìn mụ
như muốn ăn sống nuốt tươi. Về phần Phốp, chị ta
cũng thích Tí ra mặt. Mặc dù lấy chồng đã ba con,
nhưng hễ gặp Tí là mắt mụ lại lẳng lơ lúng liếng.
Trước kia, tuy thích nhưng vẫn sợ; từ ngày
được ông chú giảng giải về cái thế của anh, Tí hết
sợ. Mấy hôm sau, một đêm đi họp, Tí sấn sổ nắm lấy
tay mẹ Phốp… Tuy có du đẩy thẹn thò, nhưng cử
chỉ, dáng điệu ấy chỉ là mẽ ngoài, còn trong bụng
Phốp cảm thấy như việc ấy là dĩ nhiên, mà có lẽ việc
ấy còn xẩy ra quá chậm thì phải. Đáng lý, họ đã phải
kết hợp với nhau từ lâu.
Rơm tình bén lửa đùng đùng. Chỉ trong một
tháng họ đã kiếm cơ hội ăn ở với nhau ba lần.
Nhưng càng gặp nhau, họ càng không thấy thoả, và
càng cảm thấy thèm khát nhau hơn.
Một đêm, Tí ra thăm trại lợn, nơi Phốp làm đội
phó. Họ đã nhấm nháy nhau từ trước. Đêm đó, chỉ có
mình Phốp trực. Trăng sáng nhễ nhại. Tí đè ngửa
ngay Phốp ra ở đống rơm góc sân.
- Đừng… đừng…
- Sao lại đừng? Trông thấy đằng ấy là tớ thèm
ngay.
- Khéo chả…
- Sợ cái gì?
- Ái, ái… sợ ông trăng. Phốp cười rúc rích, rồi
giằng tay Tí đứng dậy. Mẹ Phốp ngực để trần chạy
quanh đống rơm. Mớ tóc đen của người đàn bà tung
đằng sau tấm lưng trắng ngát. Trăng loang loáng ẩn
hiện trên đôi vú nhún nhẩy. Trông Phốp như một nữ
thần linh khổng lồ, phì nhiêu, đa tình đang bay nhảy
với đôi cánh tay vẫy gọi… cuối cùng họ lại ôm lấy
nhau, ngã xuống đống rơm.
- Đừng, đừng…
- Tớ đếch sợ ai cả.
- Nhưng em sợ… con lợn đực – Phốp lại cười
rúc rích.
Nghe Phốp nói, Tí quay lại phía sau lưng. Mắt
anh chợt nhìn thấy con lợn đực đại bạch trên ba tạ
đang chồm chân lên cửa chuồng, và nhìn cái thân
hình trắng nhễ nhại của Phốp bằng con mắt hau háu.
Tí càng thấy khoái trá, hắn càng cười to, cười vang.
- Nó thấy em trắng phau, nó tưởng em là con
nái đại bạch.
Phốp đấm lưng Tí đùm đụp. Còn Tí thì giơ nắm
đấm doạ đùa con đại bạch:
- Có quay mặt đi không? Coi chừng, chẳng ông
giã giò…
Mẹ Phốp lại càng cười hi hí. Đôi vú thây lẩy
của mụ cũng rung theo một cách đa tình.
Tí bỗng cảm thấy như đã từ xưa lắm rồi, rất xa
xưa, Tí vẫn thèm một cảnh như thế này. Và cảnh ấy
đã xảy ra còn thú vị hơn cả anh mong muốn.
Trăng sáng… Tí làm tình với Phốp… Giữa
trời… giữa trăng… Đêm tĩnh mịch và gió hây hây…
Thật là thoả! Thật là thoả!… Tí hoà tiếng cười cùng
với Phốp. Mẹ Phốp trắng hếu… tênh hênh. Tí cưỡi
lên bụng mụ ta, hai tay nắm lấy đôi vú…
Cả một đêm dày quá khứ, bị kìm hãm, bị dồn
nén đã bao năm bao tháng, nay phút chốc vụt thức
giấc, bỗng bung ra. Thoáng một ý nghĩ bỗng nảy ra
trong đầu óc người nông dân cường tráng ấy:
“Có lẽ đã từ ngàn năm rồi… chưa phút nào ta
được sống như hôm nay… Ha ha, ta muốn bay… ”
Hắn ngửa cổ nhìn đám mây bông trên trời, nhìn
ánh trăng bạc đang tưới sữa lên mình Phốp, lên ngực
Phốp. Tí như muốn húp cả ánh trăng loang loáng
chảy trên đôi vú.
Tí bỗng cao hứng hai tay kéo dài đôi vú. Một
cảm giác như đang bay trên con ngựa thời gian. Từ
đáy thẳm tăm tối, trong phủ tạng của hắn bỗng vang
lên một âm điệu nhịp nhàng. Phải chăng tiếng chày
khua vào sâu thăm thẳm không gian.
Mẹ Phốp rú lên từng đợt cười hoang.
Và tất cả như một lời thơ.
Nhịp nhàng, nhịp nhàng …
Hỗn độn hối hả
Hào hùng tưng bừng
Hồng hồng đỏ đỏ
…
Đầy kho thuốc nổ
Đen ngòm chói loà
…
Nhịp nhàng, nhịp nhàng …
Vút cao vời vợi
Ta là chúa tể …
Ta là bao la …
…
Đang lúc Tí cao hứng đến tột đỉnh như vậy, đột
nhiên vang lên tiếng thét:
- Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!
Rồi đùng đùng, đoàng đoàng. Ba phát súng nổ,
hay nhiều phát súng nổ, Tí cũng chẳng kịp nhận ra
nữa. Rất nhiều tiếng chân người chạy ập tới.
Tí cuống quít, Phốp cũng cuống quít. Cô ta rên
lên:
- Hơ… Cái quần tôi đâu?… Cái áo tôi đâu?…
Chúng bay trốn lủi ở đâu?…
Tất cả đội du kích và đội chăn nuôi đều có mặt.
Các cô gái trẻ nhìn quang cảnh cười khúc khích…
Còn Phốp đang cố lấy rơm phủ lên người, rồi van
lạy:
- Các anh các chị… Hãy cho tôi xin quần áo
đã.
Mớ tóc đen óng của Phốp lúc này rối bù thảm
hại.
Thì ra, đôi trai gái đã bị rơi vào bẫy gài trả thù
của dòng họ Phạm. Người ta bố trí hiện trường,
người ta đã bò vào lấy cắp quần áo của Tí – Phốp,
trước khi hô bắt.
Người ta không cho Tí mặc quần áo, họ làm biên
bản, rồi đi mời bí thư đảng uỷ tới.
Cuộc đời chính trị của Tí như ngôi sao băng: loé
sáng lên rất nhanh, và phụt tắt đi cũng rất nhanh.
Sau chuyện xảy ra ở trại lợn, người ta tước mọi
quyền hành của Tí, để anh ta trở lại đời sống dân
thường.
Tuy vậy, mọi người chung quanh vẫn sợ anh ta,
chí ít không sợ thì cũng vẫn phải kiêng nể. Sao vậy?
Người ta thì thào với nhau:
- Đừng động đến hắn. Hắn đổ rồi nhưng cánh
họ Nguyễn vẫn mạnh. Vả lại, hắn không làm công an
xã nữa, nhưng bên trên vẫn tin cậy hắn. Nghe nói
hắn vẫn làm ” cá chìm ”.
Thế nghĩa là Tí đã mất cái quyền lực công khai,
nhưng vẫn còn cái quyền lực ẩn ngầm. Cũng có thể
Tí chẳng còn là cá chìm cá nổi gì nữa, nhưng vì
trước kia lưỡi dao của Tí đã quá sắc ngọt, nên khi
lưỡi dao ấy đã gãy rồi, người ta vẫn còn sợ bóng cái
ánh hào quang quá khứ của nó. Thậm chí dạo này Tí
rất bừa, có thể nói bê tha. Anh ta lại đi mổ lợn như
thời hàn vi; và khi đi làm về, Tí lại vẫn mua cút
rượu rồi nghêu ngao hát điệu trống quân:
Có phúc thì lấy Đồ Tể làm chồng
… … …
Thình – Thùng – Thình
Người quê tôi cũng sợ nốt cả trò bê tha ấy của
Tí. Lại có tiếng thầm thì vào tai nhau:
- Hắn giả vờ đấy. Người ta thường giả vờ bê
tha rượu chè để đánh lừa dư luận. Có tâm sự gì chớ
có thổ lộ ra với hắn.
Khi Mỹ ném bom, người ta đem những tử tù về
bắn ở ven đê, cạnh rặng phi lao làng tôi. Ông đại uý
công an ở bộ về gặp ông chủ tịch xã:
- Đề nghị các đồng chí giới thiệu cho một
người lý lịch đáng tin cậy để phục vụ trường bắn.
Dĩ nhiên, ông chủ tịch tiến cử Tí giò. Ông công
an gặp Tí liền nói:
- Xin lỗi, tôi nói thật, đồng chí tuy đã là công
an xã, nhưng công việc này đòi hỏi phải là một
người… không sợ máu me.
Tí giò cười ồ:
- Tôi đã quen với máu me từ hồi còn bé.
- Vậy thì tốt quá. Nhưng cũng xin nhắc công
việc của đồng chí là phải trói tù vào cột. Phải trói
cho chặt, kẻo lỡ ra khi bắn tử tù hăng lên giật trói,
chạy vung lên thì rầy rà.
- Việc đó đồng chí khỏi lo. Đồng chí chắc chưa
biết, chỉ riêng công việc trói đó, lúc học nghề, tôi đã
phải luyện tập đúng một năm trời. Nhân tiện, tôi
cũng đề nghị cho tôi được phép một điều: hãy cho
quyền tôi được trói bằng một thứ lạt riêng, chứ
không trói bằng thừng.
- Trói bằng lạt?
- Vâng bằng lạt ạ. Xin chớ ngại. Đó là thứ lạt
đặc biệt, bằng tre tươi chẻ lột, chỉ lấy phần cật thôi,
sau đó đem nướng lửa hoặc luộc bằng nước muối.
- A ha! Độc đáo thật.
Từ đó, hễ buổi tối nào thấy Tí giò say và hát
điệu trống quân thình – thùng – thình của hắn, là dân
làng biết ngay sáng hôm sau có vụ xử bắn ở ven đê;
bởi vì Tí có thói quen uống rượu đêm hôm trước khi
thừa hành việc pháp trường. Những đêm ấy, thường
bọn thanh niên hay lân la đến hỏi:
- Bác Tí ơi, mai họ bắn đám nào?
- À… bắn cái thằng cán bộ mê gái bỏ thuốc độc
giết vợ.
Hoặc:
- Bắn thằng giám đốc kho A. Đã tham ô hàng
triệu bạc thuốc quí để phục vụ chiến trường, sau đó
lại đốt kho phi tang.
Hoặc:
- Bắn thằng phó chủ tịch xã H lợi dụng chức
quyền hà hiếp dân, đã giết một học sinh sau đó còn
khoét mắt cậu bé.
Từ ngày Tí giò phục vụ pháp trường, lại có
thêm bao nhiêu chuyện huyền hoặc trùm lên con
người anh ta. Bà hàng xóm kể chuyện:
- Nhiều đêm, tôi nhìn qua hàng rào sang, thấy
bác Tí đứng hoa tay múa chân giữa sân, nói chuyện
với những hồn ma đã bị xử tử. Có hôm, vào lúc quá
nửa đêm, tôi đang nằm bỗng dựng tóc gáy lên vì
nghe rõ mồn một tiếng người con gái van xin: ”Con
cắn cỏ con lạy bác. Xin bác đừng trói chặt hai tay
con.” Bác Tí nói cáu kỉnh: “Mặc mày! Nghề của tao
là nghề trói buộc. Mà đã trói thì phải trói chặt.” Con
ma đàn bà vẫn nức nở: “Cháu van bác. Hãy nới tay
cho cháu một chút. Xin bác cởi trói cho cháu một
phút. Một phút thôi. Để cháu ôm con, cho nó bú một
miếng.” Bác Tí lúc này có vẻ mủi lòng một chút síu:
“Mà tao cũng phải lạy mày thôi. Phải hiểu cho tao
chứ. Tao có quyền gì. Chỉ là con xe con pháo. Người
ta chỉ đâu đánh đấy. Nếu tao cởi trói cho mày, tao
cũng chết theo.” Tiếp đó, chắc có quan trên đi tuần,
nên lại nghe thấy tiếng cộc cằn nạt nộ: “Mặc xác!
Không bú mớm gì hết. Đã trói là không có cởi.” Con
ma đàn bà hu hu khóc. Tiếng khóc nghe rởn tóc gáy.
Bà hàng xóm còn kể nhiều chuyện kì lạ khác về
Tí giò. Bà này khéo kể, nên chuyện nào cũng sinh
động nghe cứ như thật. Dần dần, đi tới chỗ những
người trước kia chỉ nể Tí, nay đã chuyển sang thành
sợ hãi Tí. Và cuối cùng ai cũng sợ Tí giò. Cứ trông
thấybóng Tí ở xa, lũ trẻ con đều lảng hết. Cả người
lớn cũng muốn lánh xa anh. Chẳng còn ai dám trêu
Tí như xưa. Người ta doạ trẻ con bằng câu nói: “Mày
khóc to, tao đem ngay đến nhà ông Tí giò.” Ông chủ
tịch doạ bọn lưu manh trong xã: “Các anh liệu hồn
đấy! Kẻo rồi lại được nếm cái mùi lạt tre của bác Tí
giò.”
Dần dần Tí giò ý thức được rằng tất cả mọi
người đều nể sợ anh. Sự sợ hãi một con người là
biểu hiện của tác động quyền lực thô bạo. Nhiều
người không thích, có người căm ghét, nhưng phần
đông người ta thích sự sợ hãi đó. Tí giò cũng thích.
Sự nể sợ của mọi người đã làm biến đổi hẳn Tí. Nó
gây trong anh một khoái cảm siêu nhân. Dần dần Tí
tự thần linh hoá. Con người anh cũng biến hình đổi
dạng. Hình như Tí đã biết phép tô đậm thêm tính
cách của mình để phù hợp với vai trò thần linh mình
đang sắm. Là người hay nói, hay hát, đột nhiên Tí
trở nên trầm lặng. Anh uống rượu nhiều hơn, và chỉ
trường hợp đi ra trường bắn Tí mới hát cái bài
“thình, thùng, thình” ưa thích. Xưa kia, dáng anh
bước nhanh, đầu hơi ngả về trước, còn bây giờ anh
đi đứng chậm chạp đầu ngẩng cao, để tạo cho cái
dáng hộ pháp của anh thêm đường bệ. Và từ một con
người huyền thoại, anh đã trở thành một con người
huyền bí.
Huyền bí nhất là chuyện giữa anh và tên tử tù
Lan.
Lan là một học sinh Hà Nội đã học xong lớp
mười và đã đi bộ đội bốn năm. Bốn năm đời lính thì
đã hơn ba năm anh lăn lộn ở Trường Sơn đánh Mỹ.
Lan bị thương, điều trị ở Quảng Bình. Lành vết
thương, Lan tranh thủ về nhà, ngôi nhà có gốc bàng
trước cửa che mát. Gốc bàng sù sì cổ thụ đà ghi lại
bao kỉ niệm ấu thơ. ở đấy có những tổ dế, có những
chú ve lột xác; và cũng ở đấy Lan đã khắc tên mình
và tên một cô bạn gái. Lan yêu mầu lá xanh, nhưng
thích nhất vẫn là mầu đỏ bầm cánh gián của nó. Có
lẽ Lan thích mầu cánh gián ấy cũng chỉ vì đúng vào
mùa đông, khi anh nhập ngũ, khi cây bàng khoác áo
mầu đỏ, thì anh đã tỏ tình với người bạn gái cùng
lớp.
Ôi cây bàng! Anh đã tốn bao giấy mực để làm
thơ về nó, để ca tụng nó. Cây bàng đã trở nên linh
thánh. Nó là biểu tượng về một hạnh phúc rất lung
linh mà cũng rất trần gian. Có lẽ một chàng trai
mảnh dẻ như anh mà chịu đựng nổi bao khổ cực của
những ngày chiến đấu cũng nhờ vào bóng dáng cây
bàng mà anh luôn mang theo trong tâm tưởng. Mà
cũng chỉ vì những kỉ niệm gốc bàng ấy, nên Lan đã
tranh thủ về Hà Nội, khi anh ra viện.
Về đến Hà Nội, lại cũng chính gốc bàng này đã
làm anh bịn rịn. Anh gặp lại người yêu ở gốc bàng
sù sì đó. Lại thêm những kỉ niệm mới, những kỉ
niệm rất đỗi tầm thường đối với người đời, nhưng lại
rất thân thương đối với chàng trai si tình. Một tháng
sau chàng mới lên đường trở lại đơn vị. Đêm chia
tay, chàng tiễn nàng ra đầu phố, nàng lại tiễn chàng
trở lại gốc bàng… cứ như thế, họ đi suốt đêm bên
nhau.
Khi Lan trở lại Trường Sơn, đơn vị anh đã rời đi
nơi khác. Và đến đây, bắt đầu một sự yếu đuối, bắt
đầu một sự trốn bỏ, và cũng có thể nói bắt đầu bi
kịch của một anh lính “B quay”
Lan lủi thủi mang ba lô quay trở về Hà Nội,
quay trở về gốc bàng ấu thơ. Nhưng lần trở lại này,
Hà Nội đón chờ anh khác hơn. Bà dì ghẻ của anh, cứ
trông thấy mặt anh là hầm hầm tức giận. Có thể,
trong tâm, bà không độc ác, nhưng tình thế đã bắt bà
phải đối xử như thế. Ông bố Lan đã về hưu, bà mẹ
ghẻ lại có ba đứa con; một mình bà chèo chống nuôi
cả gia đình đã khó khăn, nay lại phải nuôi thêm một
ông lính ”B quay”, ắt bà phải khó chịu. Người yêu
của Lan thấy Lan chẳng có tương lai gì, bỗng tỏ ra
hờ hững. Lan bí quá, lên khu đội cầu cứu, nhưng họ
đuổi về, bảo không nhận một người lính mất tinh
thần như anh.
Lan xoay xoả mua chiếc bơm, và hộp nhựa, ra
đầu đường để bơm vá xe đạp…
Anh công an hộ tịch cũng chạc tuổi Lan đến hỏi
giấy tờ.
- Tôi không có giấy phép, nhưng hoàn cảnh của
tôi gay go quá…
- Không có giấy phép, không được hành nghề.
- Anh thương tôi một chút, tôi chẳng còn con
đường nào để sống. Tôi cố gắng sống lương thiện.
- Hừ, anh là ”B quay”. Không có chuyện lương
thiện.
- Thế thì các anh bắt tôi đi. Vào tù tôi còn có
miếng cơm ăn.
- Anh hãy cứ chờ. Bao giờ tôi lên đủ hồ sơ, và
trên xét duyệt, anh sẽ được đi cải tạo.
Chờ đợi để được đi cải tạo. Lan cay đắng vác
bơm về nhà. Cả nhà đã ăn cơm rồi, anh xuống bếp
lục nồi cơm nguội. Cơm nguội chẳng còn, Lan rớm
nước mắt, anh hiểu bà dì ghẻ muốn triệt cơm anh.
Lan nhịn đói lang thang trên hè phố quê hương.
Hà nội vẫn vui vẻ, vẫn hào hoa, vẫn thanh lịch như
chẳng hề bao giờ biết tới một người con của nó đi
vào ngách khốn cùng… Người ta vẫn hát, vẫn hào
hùng; người ta vẫn yêu nhau, một cô gái nào đó đi
bên người yêu chợt cười rúc rích… Mặt hồ Gươm
vẫn xanh; chiếc cầu cong cong vẫn đỏm dáng; sau
trận mưa cây hoa sữa vẫn phả hương ngào ngạt…
Lan chợt thấy cô đơn, cô đơn hơn cả loài cây cỏ…
Chợt anh đứng sững lại choáng váng. Anh không
tin ở mắt mình nữa. Ai kia? Một cô gái đang đi xe
đạp bên cạnh một chàng trai. Mà họ cũng cười rúc
rích… Người con gái ấy chính là người yêu của Lan.
Bây giờ thì Lan nguyền rủa cái gốc bàng ấu thơ.
Bây giờ, Lan muốn đập nát hết những kỉ niệm phỉnh
phờ. Thế giới đối với anh sao hão huyền, sao độc ác!
Anh bỏ nhà đi vất vưởng, ba hôm sau mới quay
trở về. Lần này anh xuống bếp lục nồi; rất may còn
bát cơm nguội. Anh rưới thìa nước mắm, cố lùa hạt
cơm lạnh ngắt vào bụng, song nuốt cũng không trôi.
Bà dì ghẻ ngồi ở tấm phản, rít lên:
- Quân lười biếng! Quân lưu manh! Thời buổi
bây giờ không làm mà đòi ăn. Đổ cơm cho chó nó ăn
còn hơn cho nó.
Lan đặt phịch bát cơm xuống. Đúng lúc đó,
người công an hộ tịch bước vào nhà. Bà dì đổi sang
giọng đon đả:
- Kìa, chú đến chơi. Mời chú ngồi.
- Tôi đến hỏi bà về việc anh Lan mấy ngày qua
vắng mặt mà không báo cáo. Anh ấy đã về chưa?
- Kìa, kìa… Ông ấy đang lục nồi dưới bếp. Chỉ
được cái ăn là giỏi thôi chú ạ.
- Cậu ấy là người hư. Gia đình cần phải quản
lý cậu ấy thật chặt chẽ. Anh ta đi đâu? Vắng mặt lúc
nào? Làm việc gì? Nhất nhất gia đình phải báo cáo
cho tôi.
Đầu óc Lan đột nhiên sưng tấy lên. Anh thầm
nghĩ: “Chúng nó không muốn cho mình sống. Không
được làm. Không được ăn. Thậm chí đi tù còn phải
chờ đợi. Chúng mày muốn ta chết ư? Được rồi… ta
sẽ liệu …”
Tay Lan run lên. Đầu óc anh ù đi. Anh không
nghe thấy họ léo nhéo nữa. Chợt có tiếng chân
người… à, tiếng giầy. Đúng là tay công an đang đi
xuống bếp. Hắn xuống gặp ta… chắc là để đe doạ, để
răn dạy… Lan thầm nghĩ nhanh. Mắt anh đảo quanh;
đôi mắt dừng lại ở con dao phay cài trên trạn. Lan
xô lại, cầm lấy, và đứng nép sau cửa ở tư thế chờ
đợi…
Tiếng chân to dần, rồi người thanh niên mặc áo
vàng xuất hiện giữa cửa.
Lan xồ ra, vung dao, xả mạnh. Anh công an ôm
mặt thét lên:
- Ối các ông các bà! Thằng Lan giết tôi.
Sát nhân giả tử! Lẽ dĩ nhiên, Lan phải ra pháp
trường đền tội.
Hôm ấy, bãi bắn làng tôi đông nghịt. Từ ba giờ
sáng, dân làng đã í ới gọi nhau, đi trước tranh chỗ
ngồi tốt để xem cho rõ.
Lần đầu tiên, ông Tí giò cảm thấy hồi hộp khi
chứng kiến một con người đi đến cái chết.
Từ trên xe hòm bước xuống, Lan đã lấy vai gạt
mạnh hai người công an đi kèm định sốc nách anh.
Tay bị trói, anh điềm nhiên đi đến chiếc cọc.
“A! Thằng này không khuỵu chân. Tay cứng
đây. Nó đi đứng đàng hoàng, chứ không để người ta
kéo lê đi như những phạm nhân khác.”
Tí giò nghĩ như vậy. Tí giò càng ngạc nhiên
hơn khi thấy Lan vừa đi vừa nói, vừa đi vừa kể tội
những người đã xô đẩy anh đến cái chết.
Rồi Lan hét to:
- Tôi bị oan! Đồng bào hiểu cho tôi. Tôi bị
oan! Oan ức!
Đứng trước cây cột, Lan vẫn sa sả nói. Khi Tí
giò siết chặt chiếc lạt buộc tay Lan vòng qua chiếc
cột, rồi lại dùng mấy chiếc lạt dài khác buộc người
Lan vào cột như người ta bó giò, thì Lan rãy rụa.
Hắn rãy rụa cuồng nộ đến nỗi chiếc khăn đen bịt mắt
tử tù cũng phải tụt xuống. Anh chỉ huy ra lệnh:
- Ông Tí! Hãy bịt mắt nó lại.
Tí chợt nhìn thấy đôi mắt Lan, ông rùng mình.
Chưa bao giờ ông gặp những con mắt sáng đến như
vậy. Long lanh giận giữ. Sáng quắc như được nạp
một dòng điện siêu nhiên. Rồi Lan bậm môi nhổ vào
mặt Tí:
- Đồ tể! Mày là thằng đồ tể. Chết đi, hồn tao sẽ
hiện về bóp cổ mày.
Ông đại uý ra lệnh:
- Ông Tí, bịt mồm nó lại.
Tí run run lấy miếng vải đen quấn ngang qua
mồm Lan rồi buộc vào chiếc cọc. Lan vẫn rãy rụa
nên mảnh vải không tài nào buộc chặt lại được. Lan
gầm to:
- Đồ tể! Giết người! Đồ tể! Giết người!
Ông đại úy lại ra lệnh tống giẻ vào mồm Lan.
Lan dùng lưỡi đẩy miếng giẻ ra, nên khi ông đại úy
đang đọc bản án, hắn lại tiếp tục rủa xả. Thế này
thật chẳng còn ra thể thống gì nữa. Ông đại úy tức
giận chạy đến tát vào mồm người tử tù. Lan vẫn nói
không ngừng.
Tí giò đứng đấy, mồ hôi vã ra như tắm. Lần
đầu tiên, ông chuyên gia trói buộc này bỗng thấy hai
bàn tay mình run rẩy. Nhưng, một sáng kiến về trói
buộc bỗng loé nở trong óc. Tí chạy ra lấy chiếc dây
cao su buộc hàng đằng sau xe đạp. Ông kêu to khoái
trá:
- Đây rồi! Đây rồi! Lần này thì mày phải câm
miệng.
Tí cầm chiếc dây cao su quấn ghì đầu Lan vào
chiếc cọc tre. Ông vòng dây cao su ngang mồm Lan;
Lan há mồm định nói, nhưng chiếc dây đã lanh lẹn
ngáng qua, chịt hàm răng lại. Quấn hai vòng cao su
xong, Lan bặt nói, nhưng chiếc khăn đen bịt mắt lại
tụt xuống. ánh mắt lúc này còn sáng quắc hơn lần
trước. Có lẽ bị bịt hết cửa biểu hiện rồi, nên toàn thể
tinh lực căm giận phải tuôn trào hết ra ánh mắt. Tinh
lực ấy làm ngầu đôi mắt, nó đẩy hai nhãn cầu lồi ra
phía trước.
Tí bỗng lạnh toát từ đầu đến chân. Ông vẫn đọc
thấy trong đôi mắt ấy lời chửi rủa hận thù:
- Chết! Hồn ta sẽ hiện về…
Tí run rẩy sợ hãi. Ông liền vòng ngay một vòng
cao su qua đôi mắt quái đản ấy, để khép kín vĩnh
viễn chúng khỏi cuộc đời.
Tiếp đó, những phát đạn nổ ròn…
Máu ở tim Lan vọt ra rất mạnh. Lan giật lên
từng hồi, giật rất lâu. Tí thầm nghĩ: “Cả đến cách
rãy chết của thằng cha này cũng mang lời oán hận.”
Và ông chợt nghĩ thầm: “Hay là nó oan thật sự?”
Phát súng nhân đạo đã bắn vào thái dương người
tử tù. Bác sĩ pháp y ra khám nghiệm, tuyên bố phạm
nhân đã chết hẳn. Tí làm nốt công việc cuối cùng.
Ông mệt mỏi cởi sợi dây cao su chằng mồm và mắt
Lan. Đôi mắt vẫn mở trừng trừng oán hờn khiến bàn
tay Tí giò càng thêm lẩy bẩy. Khi ông cắt nốt chiếc
lạt cuối cùng, ông vụng về đến nỗi cắt cả một mảng
da ở cổ tay phạm nhân. Xác chết không còn gì trói
buộc nữa, đổ gục xuống tấm ván nắp áo quan đã để
sẵn dưới cọc tre. Hai người khiêng cái nắp áo quan;
Tí giò đi sau còn trông thấy hai bàn tay người tử tù
vẫy theo nhịp đi. Quái quỉ thật! Bàn tay ấy như vẫy
gọi Tí.
“Hai ba… nào” – Tí giò hô to và hất xác chết
xuống áo quan đã đặt sẵn dưới huyệt. Cái xác chết
lúc này lại được lật ngửa lên. Đôi mắt lồi ra khỏi hố
mắt mầu trắng dã của kẻ tử tù lại có dịp được nhìn
vào mặt Tí giò. Nhìn chằm chằm như chiếc máy ảnh
muốn chụp lại khuôn mặt hoảng hốt của Tí.
Tí nghĩ thầm: “Trời ơi! Đôi mắt ấy vẫn còn
sống. Nó chớp chớp và nó đe doạ”
Tí vội vàng vứt nhanh chiếc nắp áo quan xuống
để khỏi phải nhìn thấy đôi mắt ma quái ấy. Rồi ông
xúc đất, xúc vội vàng, lấp qua loa, để gọi là có một
nấm mồ.
Sau hôm xử bắn Lan, Tí giò thấy trong người
khó chịu. Rồi Tí giò mất ngủ, mất ngủ liên miên. Hễ
lúc nào nhắm mắt, là đôi mắt trắng dã của kẻ tử tù
dưới mộ lại hiện ra trước mắt Tí. Đôi mắt ấy đang
báo thù. Nó không cho Tí ngủ, vì hễ ông nhắm mắt
lại là lập tức nó hiện ra.
Tí mất ngủ đến hàng tháng trời. Người vêu vao
phờ phạc. Tí tìm cách chợp mắt để lấy lại sức khỏe.
Anh ngủ ban ngày, và ngủ ngồi. Anh trốn chạy đêm
tối, vì nghĩ rằng chỉ đêm tối hồn mới hiện về. Nhưng
chỉ được hai hôm. Đến hôm thứ ba, dù ngủ ngày và
ngủ ngồi đôi mắt trắng dã căm thù vẫn cứ hiện về.
Tí nghĩ: “Mày định chọi với tao à? Tao phải
chọc mù hẳn đôi mắt trắng dã của mày”
Một tối chờ dân làng ngủ yên hết cả, Tí cầm
chiếc thuốn đi ra bãi bắn ven đê. Ông tìm đến mộ
của tử tù Lan. Và ông cứ nhằm phía đầu mồ mà
thuốn, mà đâm. Sức mạnh phi thường của Tí làm tan
cả mảnh ván thiên. Tí thúc thanh sắt vài lần nữa, thì
chiếc thuốn sọc ngay vào đầu tên tử tù. Chắc là vậy,
bởi vì Tí cảm thấy thanh thuốn chạm phải một vật gì
cứng. Sự va chạm ấy phát ra một âm thanh khô khốc,
lạnh lẽo. Tí thầm nghĩ: “Phải chọc tan chiếc đầu lâu
của mày ra.” Bằng động tác giã giò, Tí kéo lên thọc
xuống, cho đến lúc tay ông có cảm giác lạo xạo của
chiếc đầu lâu bị vỡ vụn.
Khoan khoái, hả hê, Tí rút thuốn lên. Đột nhiên,
một luồng khí xanh lè phì ra từ lỗ thuốn. Tí không
tránh kịp, luồng khí phụt luôn vào mặt.
Tí rú to, vứt thuốn, ôm lấy bộ mặt lạnh toát của
mình. Rồi, sợ hãi quá, Tí cắm đầu cắm cổ chạy.
Luồng khí xanh lè ấy đuổi theo anh như một bóng
ma. Và văng vẳng có tiếng người tử tù thét lớn:
- Tao sẽ giết mày… Đồ tể!
Đêm ấy, Tí lên cơn sốt cao. Sau khi khỏi sốt,
người ta thấy ông thường xuyên lấy hai ngón tay bịt
hai lỗ tai, bởi vì tiếng nói của người tử tù luôn vang
trong óc ông để đe doạ.
Giai đoạn trước, thỉnh thoảng có đêm Tí chợp
mắt được ít tiếng. Giai đoạn này, Tí hoàn toàn mất
ngủ.
Đêm đêm, ông như một bóng ma lang thang
khắp làng. Có đêm người tuần nông gặp ông ta quì
trước mộ người tử tù và van lạy:
- Tôi xin anh buông tha. Tôi có giết anh đâu.
Một luồng khí xanh lơ từ mả bốc lên và có
tiếng người văng vẳng:
- Anh chối sao được. Anh là đồ tể. Nghề của
anh mọi người đều biết. Xoá đi cũng chẳng nổi.
Giai đoạn cuối cùng, không những Tí luôn luôn
nghe thấy tiếng người tử tù, mà ông còn trông thấy
cả bóng người săn đuổi mình. Có đêm, Tí chạy rầm
rầm ngoài đường, rồi bất thình lình vội vàng nép vào
một bụi cây, một đống rơm, hoặc một nơi bẩn thỉu
tối tăm nào đó. Ban ngày, Tí quên ăn, quên uống,
luôn lắp bắp lạy van, và thích thu hình rúm ró ở
những xó buồng xó bếp.
Cuối cùng, Tí bỏ làng đi mất trong một đêm
mưa phùn, để rồi mấy hôm sau lại trở về nghĩa địa
tử tù và chết cong queo bên một gốc phi lao.
Đêm nay, tôi lại gặp vong hồn Tí ở pháp
trường. Mặc dù Tí đeo một màn sương, tôi cũng
nhận ra người đồ tể với số phận bi thảm ấy. Tí cũng
nhận ra tôi. Bây giờ, giọng điệu của anh không còn
vẻ lên mặt nữa; anh đã chuyển sang tâm sự buồn rầu.
- Anh Hoàng ạ, chết rồi mà tôi vẫn khổ.
- Chết còn biết khổ sao?
- Người chết tức là người được nghỉ ngơi vĩnh
viễn. Chỗ ở của người chết bao giờ cũng là một khu
rừng yên tĩnh, ở đó chỉ có tiếng ru lá và tiếng chim
véo von. Đằng này, cái chết của tôi là chết lang
thang. Tôi vẫn mất ngủ. Đêm đêm, tôi vẫn là một
linh hồn cô đơn đi vật vờ ở bãi pháp trường hoang
lạnh này.
Tôi mỉm cười:
- Tưởng anh phải được vào xứ thiên đàng.
- Anh định nói rỡn một con người thảm hại như
tôi sao? Đến địa ngục, người ta cũng chẳng cho tôi
vào, vì ở đó chỉ tiếp nhận những con người bình
thường ở thế gian.
- Vậy, ra anh là một con người không bình
thường?
- Đúng thế, tôi là người làm nghề trói buộc.
Trước kia, tôi hãnh diện với cái nghề ấy biết bao…
Thật không ngờ, vì nó mà tôi không được lên thiên
đàng, cũng chẳng được xuống địa ngục. Ôi chao!
Sao tôi thèm được nằm dài yên tĩnh trong một nghĩa
địa êm ả nào đó. Không một nghĩa địa nào thu nhận
tôi. Người ta bảo kiếp của tôi là kiếp một ông thày
tu cô đơn lang thang.
- Vậy thì ông hãy lang thang bằng đôi chân
của mình… Cớ sao anh còn lảng vảng ở nơi khủng
khiếp này?
- Tôi sợ hãi sự lang thang cô đơn lắm rồi.
Tôi… Tôi… phải chờ ở đây để gặp những người tử
tù đã bị tôi trói buộc, để van xin họ cho linh hồn tôi
được nghỉ ngơi. Kìa! Đã sắp sáng những hồn ma sắp
trở về đón bình minh, rồi chui xuống mồ…
Tôi quay lại phía sau lưng, thấy những bóng
trắng chập chờn đi lại. Tí giò quì xuống:
- Anh Lan! Tôi van anh, hãy giải lời nguyền thù
oán cho tôi. Hãy cho tôi sự yên tĩnh. Hãy cho tôi
giấc ngủ.
- Ta đâu có quyền gì. Tội của ông là vậy, ông
phải nhận hình phạt là vậy.
- Tôi có giết anh đâu.
- Khác gì giết. Sao ông trói mồm tôi lại, khi
tôi muốn kêu than? Sao ông trói mắt tôi lại, khi tôi
muốn nhìn cuộc đời. Ông có quyền gì mà tự cho
phép được trói mắt, trói mồm con người lại?
- Kìa, cô Huệ. Cô làm ơn nói giúp hộ tôi.
- Làm sao nói được, khi ông chẳng một chút
nới tay, khi tôi van xin ông cởi trói để tôi ôm con tôi
và cho con tôi bú.
- Anh Thái! Em van anh nghĩ đến tình đồng
đội khi xưa.
- Ta giúp anh nhiều quá rồi. Ta dìu dắt anh,
dậy anh học, giúp anh cách làm việc. Chính những
người như ta đã tin anh, đã đưa anh lên những địa
vị, để rồi cuối cùng nhận những lưỡi dao xoáy thẳng
vào tim.
- Các người không tha thứ cho ta sao?
- Tha thứ sao được. Hãy cứ để cho anh cô đơn
và lang thang, để làm bia, làm gương cho thiên hạ.
Ta biết anh quỉ quái lắm. Anh đã chết rồi, nhưng còn
con anh, còn cháu anh, còn họ hàng nhà anh vẫn nằm
trong ngôi vị làng xã. Anh vẫn truyền di lại cái chất
đồ tể của anh cho họ. Phải cho họ nhìn thấy cái kiếp
đồ tể sẽ là như thế.
Tôi xen vào cuộc đối thoại;
- Ông hương sư ơi, ông phải giúp hắn, bởi vì
chính ông phải chịu trách nhiệm về những hành vi
của hắn.
- Sao? Trách nhiệm ư?
- Chính vậy, vì ông là người thầy.
- Ta chỉ dạy những điều tốt đẹp.
- Ông đã dạy hắn phải biết tàn nhẫn.
- Ta đâu có dạy điều đó.
- Không nên chối. Lão Quản Hưng là bác ông,
chính ông đã lập kế hoạch giết Hưng, đã chỉ vẽ cho
Tí giò về đặc tính của chánh Hưng, do đó hắn mới
biết cách phục kích lão ta ở trong chuồng lợn. Nếu
không có kế hoạch của ông, khó ai có thể giết được
lão ta.
- Chánh Hưng là kẻ thù, tất yếu phải giết. Còn
ta, ta là đồng đội của hắn, tại sao hắn giết nốt cả ta?
- Ông quên rồi sao? Ông dạy Tí phải biết cảnh
giác, phải nghi ngờ ngay cả những người thân thiết
nhất của mình. Chính ông đã nói, trong những bước
ngoặt lịch sử có thể đồng đội của ta lại trở thành kẻ
thù. Cũng chính ông đã nói: hễ là đối lập thì không
thể tồn tại.
- Anh Hoàng, anh thật quỉ quái. Anh đổ mọi tội
lỗi lên đầu ta. Chẳng lẽ cái việc gạt bỏ những người
họ Phạm ra khỏi quyền lực cũng do ta dạy cho Tí
giò?
- Chứ sao! Xưa kia, ông đã bao nhiêu lần nói
tới cái sức mạnh của số đông phe cánh. Không có số
đông phe cánh thì ta không thể làm nổi một việc gì ở
thời đại này. Có một điều ông không dạy bằng lời
nói: đó là sự khát khao quyền lực. Nhưng chính ông
đã làm điều đó rất có ý thức. Và Tí giò đã lặp lại
cách sử dụng quyền lực của ông. Sự khát khao quyền
hành là động cơ kỳ diệu, nó giúp con người làm nên
kỳ tích, nhưng khi cực đoan nó cũng biến thành
người đao phủ. Ông hương sư ơi! Chính vì vậy nên
tôi nói rằng ông phải chịu trách nhiệm về hành động
của bác Tí giò.
- Không phải ta dạy Tí giò điều đó. Chính lão
Hương Tẹo mới là thầy dạy Tí giò. Có đúng không
hả ông Tí?
Từ nãy Tí vẫn đứng ngẩn nghe tôi và Thái đối
thoại, lúc này ông ta như tỉnh ngủ. Ông tần ngần trả
lời:
- Thưa, cả anh Thái, cả cụ Hương Tẹo… cả hai
người đều là thày dạy của em. Bây giờ em hiểu ra
điều đó.
Thái giơ tay lên, kêu to, phản đối:
- Các người vu oan cho ta. Đây các người hãy
nhìn xem: bàn tay ta sạch sẽ; trái tim ta trong trắng;
tâm hồn ta tốt đẹp.
Lan, người tử tù bỗng cười lên sằng sặc:
- Các người ơi! Đừng chơi trò giả dối. Trắng
ư? Đen ư? Tội lỗi dù trắng hay đen vẫn là tội lỗi.
Tôi là một người đã bị dồn đến chỗ giết người, rồi
lại bị người khác giết mình. Tôi chắc hiểu được thế
nào là lưỡi dao đâm thọc vào tim. Không nghi ngờ gì
nữa! Khi ta để một con người gục xuống, thì dù ta là
đồ tể, dù mượn tay người khác làm đồ tể, cũng
không thể nào bào chữa được.
Có tiếng gà gáy dồn; và thấy những tia sáng
đầu tiên nhô lên ở đằng đông. Những bóng ma bồng
bềnh bỗng tan biến đi cùng những màn sương trắng.
Tôi nhìn chiếc cọc tre đen sì cắm vào lòng đất
phù sa, chợt có cảm giác như một chiếc đinh khổng
lồ cắm vào trái tim mình.
Tôi chợt bùi ngùi cúi xuống, vục tay bốc lên
một nắm đất phù sa và than van:
- Đất quê ơi! Với ông hương sư Thái và lão
Hương Tẹo làm thày; không hiểu rồi đất quê ta sẽ từ
mầu hồng biến sang mầu gì nữa?
Tôi chợt nảy ra một ý định rồ dại. Tôi chạy lại
gần một chiếc cột đen sì, và lay, và đẩy. Phải nhổ
cái đinh gớm ghiếc ấy đi!
(còn tiếp)
Nguồn: Trư cuồng. Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh.
|