tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Thông tin tác giả
Trần Bạch Đằng
 



(15 tháng 7 năm 1926 — 16 tháng 4 năm 2007)


Là một nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo Việt Nam. Ông còn là một nhà chính trị lão thành của Việt Nam đã tham gia hoạt động cách mạng từ trước năm 1945. Ông cũng là tác giả của quyển tiểu thuyết Ván bài lật ngửa viết về một nhân vật tình báo trong Chiến tranh Việt Nam: Đại tá Phạm Ngọc Thảo, với bút danh Nguyễn Trương Thiên Lý.


Nơi ở: 42/65 Nguyễn Minh Hoàng, P12, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh.


Tên thật là Trương Gia Triều, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1926 tại xã Hòa Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá (nay là tỉnh Kiên Giang). Ông là cháu nội nhà chí sĩ yêu nước Trương Gia Mô (còn gọi là cụ Nghè Mô). Ông là một trong những học sinh thời kỳ đầu của trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký (nay là Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, Thành phố Hồ Chí Minh).


Về sự nghiệp chính trị, ông tham gia cách mạng từ khi mới 17 tuổi. Năm 1946, ông đã được giao phụ trách tờ Chống Xâm Lăng của Thành ủy Sài Gòn. Năm 1951 làm tổng biên tập báo Nhân Dân Miền Nam của Trung ương Cục. Trong suốt Chiến tranh Việt Nam, ông lần lượt đảm trách nhiều cương vị quan trọng như bí thư Thành ủy Sài Gòn, phụ trách Ban tuyên huấn Trung ương Cục, Ủy viên Đoàn chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.


Năm 1976, ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Từ năm 1978, ông là phó Ban Dân vận trung ương. Năm 1981, ông công tác ở Ban Tuyên huấn trung ương; năm 1982 là chuyên gia công tác tư tưởng văn hóa, viết báo, văn, nghiên cứu khoa học xã hội, giúp trung ương và Chính phủ Việt Nam một số vấn đề về chiến lược tư tưởng, kinh tế - xã hội.


Về sự nghiệp văn chương, do ảnh hưởng của gia đình, lòng ham thích văn chương hình thành trong ông rất sớm. Năm 1943, ông đã có những bài thơ đầu tay như:


Trên bờ Đồng Nai


Dấu cũ


Chiếu rách mưa đêm


Dạy học lậu...


Trong sự nghiệp của mình, ông có nhiều bút hiệu như: Hưởng Triều, Nguyễn Hiểu Trường, Nguyễn Trương Thiên Lý, Trần Quang... và tham gia ở nhiều thể loại khác nhau.


Ông qua đời ở tuổi 81 vào hồi 10g55 ngày 16 tháng 4 năm 2007 (nhằm ngày 29 tháng 2 âm lịch) tại bệnh viện Chợ Rẫy vì ung thư phổi.


Tác phẩm


Truyện ngắn:


Bác Sáu Rồng (1975)


Một ngày của bí thư tỉnh ủy (1985)


Chân dung một quản đốc (1978)


Ngày về của ngoại (1985)


Kịch nói:


Trần Hưng Đạo bình Nguyên (1951)


Nửa tuần trăng kỳ lạ (1984)


Tình yêu và lời đáp (1985)


Một mùa hè oi ả (1986), Một mối tình (1987)


Điện ảnh, nhiều kịch bản phim:


Ông Hai Cũ (2 tập, 1985-1987)


Dòng sông không quên (1989)


Ván bài lật ngửa (8 tập, 1982-1988)


Tham gia biên soạn hoặc làm chủ biên nhiều công trình khoa học:


Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh


Địa chí Đồng Tháp Mười


Địa chí Sông Bé


Lịch sử Nam Bộ kháng chiến...


Về thể loại báo chí, ông được xem là một cây bút tích cực phê phán tiêu cực và có nhiều kiến nghị sâu sắc về việc đổi mới của Việt Nam. Nổi bật nhất có Đổi mới - Đi lên từ thực tế (Nhà xuất bản Trẻ, 2000) gồm 112 bài tuyển chọn từ 1975-2000, với 3 phần: Thôi thúc của đổi mới (1975-1985), Gian nan những bước đầu (1986-1991), Chín năm cho một cuộc hồi sinh (1992-2000).


Thơ hơn cả với các tập thơ:


Bài ca khởi nghĩa (1970)


Hành trình (1972)


Theo sóng Đồng Nai (1975)


Đất nước lại vào xuân (1978)


Những cái tên đồng bằng (1986)


Tuyển tập Hưởng Triều (1997)


Một nhà báo nhạy bén và quyết liệt


Trần Bạch Đằng là một nhà báo có tài. Không phải vì ông đã "dính" với nghiệp báo hơn 60 năm, đã là nhà báo lão thành. Thâm niên trong nghề báo chỉ là một phần, nhiều khi khá nhỏ, quyết định bản lĩnh cũng như sự sắc sảo của một cây bút "nhật trình".


Trước khi là nhà báo (chuyên nghiệp) Trần Bạch Đằng là một nhà chính trị, một người lãnh đạo. Không biết điều đó có giúp gì cho ông với tư cách một nhà báo hay không, hoặc có ảnh hưởng gì tới quan điểm báo chí của ông không. Nhưng ngay sau khi rời khỏi vị trí lãnh đạo, ông lập tức trở lại với nghề báo; và lập tức trở thành một cây viết rất quen thuộc của rất nhiều tờ báo lớn.


Sau nhiều năm, tên ông thường xuất hiện trên các báo như: Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Phụ Nữ. Nhưng không chỉ báo lớn, nhiều khi cái tên "Trần Bạch Đằng" ký dưới bài viết còn xuất hiện ở rất nhiều tờ báo "nhỏ". Những lĩnh vực mà ngòi bút báo chí Trần Bạch Đằng "xới" tới khá rộng, từ chính trị tới xã hội, văn hóa, từ chống tham nhũng tới việc xây dựng một xã hội pháp quyền.


Không cực đoan nhưng luôn thẳng thắn trong quan điểm, luôn có "lửa" trong ngòi bút, những bài báo của Trần Bạch Đằng đã được đông đảo người đọc đón nhận một cách tích cực. Ngay cả trong những bài viết phân tích những vấn đề chính trị hay xã hội từ quan điểm của một nhà lãnh đạo (cựu lãnh đạo), ông vẫn đứng về phía người dân thường hay đứng, hay nghĩ, hay cảm[cần dẫn nguồn].


Ông còn có rất nhiều tham gia tích cực, nhiều khi là can đảm không ngại đụng chạm để sự thật được nói lên. Một số bài báo của Trần Bạch Đằng đã thực sự là chỗ dựa công luận cho người dân. Một số bài báo khác đã thực sự tiếp thêm dũng khí cho người trung thực trong cuộc đấu tranh vì sự trong sạch của guồng máy công quyền, vì sự công bằng xã hội.


Qua những bài báo của ông có thể nhận thấy ông luôn giữ lý tưởng từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám ở miền Nam Việt Nam, khi ông là một thủ lĩnh của tổ chức Thanh niên Tiền phong. Đó là làm sao để "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, và văn minh".



Tác phẩm chính đã xuất bản: Bài ca khởi nghĩa (thơ, 1970); Hành trình (trường ca, 1970); Theo sóng Đồng Nai (thơ, 1975); Đất nước lại vào xuân (thơ, 1979); Những cái tên đồng bằng (thơ, 1987); Bác Sáu Rồng (tập truyện, 1975); Chân dung một quản đốc (tiểu thuyết, 1983); Ngày về của ngoại (truyện ký, 1985); Một ngày của Bí thư Tỉnh ủy (tập truyện, 1985); Ông Hai dứt khoát (tập truyện, 1986); Ván bài lật ngửa (truyện dài nhiều tập, chuyển thể thành kịch bản phim nhiều tập, 1987); Viết về những người đã khuất (truyện ký, 1990); Ông Hai cũ (kịch bản phim, 1986); Dòng sông khong quên (kịch bản phim, 1989); Trần Hưng Đạo bình Nguyên (kịch, 1951); Nửa tuần trăng kỳ lạ (kịch, 1984); Tình yêu và lời đáp (kịch, 1985); Tầm nhìn 700 năm trước (tuồng hát, 1987).


Giải thưởng văn học: Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt I, năm 2001.

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
19.03.2016
Tiễn anh Năm Diêu (những bài báo)