|
Trung tướng. Nguyên: Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó Tư lệnh chính trị Quân khu 2.
Huân chương Quân công hạng nhì, ba; Huân chương Chiến thắng hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; Kỷ niệm chương Chiến sỹ cách mạng bị bắt và tù đày.
Thiếu tướng (1983), Trung tướng (1988).
Tên thật Lê Đỗ Nguyên, sinh ngày 11.02.1926, quê ở xã Đông Cương, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông là anh trai của nhân vật nữ trong bài thơ Màu tím hoa sim nổi tiếng. Ông là chồng của Phó Giáo sư Đặng Thị Hạnh, con rể của Giáo sư Đặng Thai Mai và là anh em đồng hao với Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.
Từ năm 1940 đến năm 1944, ông là học sinh Trường Bưởi, tham gia các hoạt động yêu nước tại nhà trường và bị đế quốc Pháp bắt, giam tại xà lim Thanh Hoá. Khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945), ông trốn ra, tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng tại Hà Nội trong tiểu đội Phạm Hồng Thái. Vì là thời kỳ tiền khởi nghĩa cho nên, các chiến sĩ trong tiểu đội đều đổi họ tên và đều lấy họ Phạm Hồng.
Ngày 25/8/1945, nghĩa là chỉ một tuần sau khi giành được chính quyền, Thành uỷ Hà Nội quyết định thành lập Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc (ĐTVCĐCQ) Hoàng Diệu. Đây là những đoàn viên cứu quốc trung kiên, được tuyển lựa chủ yếu trong hàng ngũ công nhân, dân nghèo thành thị và thanh niên học sinh. Họ được giao nhiệm vụ cùng với các lực lượng vũ trang khác bảo vệ chính quyền cách mạng, làm công tác tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ, Mặt trận Việt Minh và vận động quần chúng thực hiện; tổ chức và huấn luyện cho tự vệ thành; làm nòng cốt trong các cuộc đấu tranh của quần chúng chống thù trong giặc ngoài. Từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 9 năm 1946, ông được cử giữ chức Trung đội trưởng Tự vệ chiến đấu Cứu quốc thành Hoàng Diệu (Thành bộ Việt Minh Hà Nội).
Trong ngày lễ lịch sử (2/9/1945), ông cùng các đội viên ĐTVCĐCQ được giao ngay trọng trách là làm hàng rào danh dự bảo vệ lễ đài trên quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào và Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập.
Từ tháng 10 năm 1946 đến tháng 2 năm 1947, ông là Thư ký Văn phòng Quân uỷ Hội. Từ tháng 3 năm 1947 đến tháng 7 năm 1947, ông là Chính trị viên Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 140. Từ tháng 8 năm 1947 đến tháng 9 năm 1949, ông là Chính trị viên Tiểu đoàn Bình Ca, tham gia chiến dịch Việt Bắc Thu đông năm 1947, đánh thắng quân Pháp trận đầu trên Sông Lô. Từ tháng 10 năm 1949 đến tháng 2 năm 1951, ông là Phó phòng Chính trị Đại đoàn 308, tham gia chiến dịch Biên Giới, Trung Du. Từ tháng 3 năm 1951 đến tháng 9 năm 1954, ông là Phó chính uỷ Trung đoàn 36, Đại đoàn 308, tham gia các chiến dịch lớn trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ.
Từ tháng 10 năm 1954 đến tháng 11 năm 1955, ông là Chính trị viên Trường Quân chính Đại đoàn 308. Từ tháng 12 năm 1955 đến năm 1956, ông là Chính trị viên Tiểu đoàn Huấn luyện, rồi Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn 308. Từ tháng 12 năm 1956 đến tháng 7 năm 1959, ông là Chính uỷ Trung đoàn 36, Đại đoàn 308. Từ tháng 8 năm 1959 đến tháng 2 năm 1962, ông là Trưởng phòng Tuyên truyền, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị. Từ tháng 3 năm 1962 đến tháng 2 năm 1970, ông là Cục phó Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị. Từ tháng 3 năm 1970 đến tháng 2 năm 1974, ông là Phái viên Tổng cục Chính trị tại chiến trường B5, tham gia chiến dịch Đường 9 Nam Lào năm 1971, Quảng Trị năm 1972. Từ tháng 3 năm 1974 đến tháng 5 năm 1975, ông là Cục trưởng Cục Văn hoá, Phái viên Tổng cục Chính trị tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.
Từ tháng 6 năm 1975 đến tháng 5 năm 1978, ông là Cục trưởng Cục Văn hoá, Tổng cục Chính trị. Từ tháng 6 năm 1978 đến tháng 7 năm 1980, ông là Phó tư lệnh Chính trị kiêm Chủ nhiệm chính trị Quân khu 2. Từ tháng 8 năm 1980 đến tháng 7 năm 1986, ông là Phó tư lệnh chính trị Quân khu 2.
Từ tháng 4 năm 1986 đến tháng 9 năm 1995, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Năm 1995, ông được Nhà nước và Quân đội cho nghỉ hưu.
Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
|