tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Thông tin tác giả
Phạm Văn Ký


 

(10.07.1910/  27.04.1992 )


Sinh ngày 10.07.1910 tại tỉnh Bình Định, Việt Nam, từ trần ngày 27.04.1992 tại Créteil, Val-de-Marne, Pháp, là nhà văn người Việt Nam, đã đoạt Giải thưởng lớn cho tiểu thuyết của Viện hàn lâm Pháp năm 1961.


Sinh ngày 10.7.1910; nhưng các nguồn khác nói là năm 1913 hoặc 1916, trong một gia đình có 13 người con, trong đó có nhà thơ Phạm Hổ, Nhạc sỹ Phạm Thế Mỹ.


Theo nhà văn Nguyễn Vỹ thì ông Ký học Trung học ở Sài Gòn, còn theo Jack A. Yeager thì ông Ký học ở Hà Nội.


Năm 1936, ông được trao giải "Premier prix de Poésie aux Jeux Floraux d'Indochine" cho một tập thơ viết bằng tiếng Pháp. Ông cũng là người đầu tiên viết lời giới thiệu cho tập thơ "Gái Quê" của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Ông từng làm biên tập viên cho vài tờ báo tiếng Pháp ở Bình Định, Huế, Sài Gòn, sau đó sang Pháp học ở đại học Sorbonne, nhưng không bao giờ hoàn thành được học vị của mình vì Chiến tranh thế giới thứ II.


Sống ở Paris từ năm 1938. Từ năm 1946, kết hôn với nữ diễn viên kịch Yvonne Gaudeau, hội viên "Hội kịch nghệ Pháp". Ông cư ngụ tại Maisons-Alfort, ngoại ô thành phố Paris cho tới khi từ trần tại bệnh viện Henri-Mondor ở Créteil.


Tác phẩm


Tiếng Việt


Kiếm hoa (Tiểu thuyết)


Con đường thiên lý số 1 (Tiểu thuyết, chưa được xuất bản)


Đường về nước (Thơ)


Tiếng Pháp


Une voix sur la voie, thơ (Hanoi, 1936)


Fleur de Jade, thơ (1943)


1946: L'Homme de nulle part: légendes


Frères de sang (Paris: Editions du Seuil, 1947), tiểu thuyết (Margaret Mauldon dịch sang tiếng Anh với tên Blood Brothers (New Haven: Yale Southeast Asia Studies, 1987)


1954: Celui qui régnera (tiểu thuyết)


Les Yeux courroucés (Paris: Gallimard, 1958), tiểu thuyết


Les Contemporains (Paris: Gallimard, 1959), tiểu thuyết


Perdre la demeure (Paris: Gallimard, 1961), tiểu thuyết, (đoạt Giải thưởng lớn cho tiểu thuyết của Viện hàn lâm Pháp) năm 1961; Phạm Văn Ba dịch sang tiếng Việt với tên "Mất nơi ở", NXB Hội Nhà Văn, 2006).


Poèmes sur soie, thơ (1961)


Des Femmes assise çà et là, (Paris: Gallimard, 1964), tiểu thuyết


Le Rideau de pluie, drama (1974)


Danse avant l'Aube, "ballet-poème"


Ngay từ những năm 30 ông đã làm thơ, viết văn cả tiếng Pháp, tiếng Việt. Từng được giải nhất trong một kì thi thơ viết bằng tiếng Pháp của người Pháp tổ chức ở các nước thuộc địa.


Khoảng năm 1934-1935, ông vào Sài Gòn viết báo và làm chủ bút báo Impartial một thời gian. Sau đó về Quy Nhơn diễn thuyết về các vấn đề văn học và thơ mới, rồi ra Huế giữ chân chủ bút tờ Gazette de Huế của nhóm Trần Điền, Đào Đăng Vỹ, Hoài Thanh, Nam Trân...


Năm 1938 ông được học bổng, sang Paris học tại Đại học Văn khoa thuộc Đại học Sorbonne, đậu cử nhân và cao học Văn khoa.


Từ sau thế chiến II, ông làm việc cho Đài phát thanh và truyền hình Pháp, phụ trách chương trình giành cho khán thính giả Việt Nam. Tại đây, ông cộng tác với nhiều tạp chí văn học, văn chương Pháp và là tác giả một số kịch phẩm truyền thanh và truyền hình tại Pháp.


Năm 1970, ông cùng một phái đoàn Việt kiều tại Pháp về Hà Nội thăm tổ quốc sau mấy chục năm xa nước. Về Hà Nội ông đi thăm một số địa phương ở miền Bắc rồi trở lại Pháp làm việc.


Ông mất ngày 27-04-1992, tại Paris trong cảnh cô đơn với “nỗi buồn riêng” của mình.


Các tác phẩm chính (phần lớn bằng tiếng Pháp):


·         Kiếm hoa (tiểu thuyết)


·         Huế éternelle (Huế vĩnh cửu, thơ)


·         Đường thiên lí số một (tiểu thuyết)


·         La femme Trương (nt, Vợ chàng Trương)


·         Une voix sur la voie (thơ, Một tiếng trên đường)


·         Celui qui règnela (tiểu thuyết, Người sẽ ngự trị)


·         La citadelle d’Escargot (kịch, Thành Ốc)


·         Les yeux Courroucés (tt, Những con mặt giận dữ)


·         Frères de sang (tt, Anh em ruột thịt)


·         Perdre la demeure (tt, Đánh mất cội nguồn)


·         Mémoires d’un eunuque (tt, Kí ức một hoạn quan)


·         Poèmes sur soie (thơ, Thơ trên lụa)


·         Les uns font les étoiles (tt, Những người này làm nên các vì sao)


·         Le défi Vietnamien (Sự thách thức của Việt Nam)


·         Đường về nước (thơ)


Hầu hết (trừ tập thơ cuối đời) sáng tác phẩm ông đều viết bằng tiếng Pháp về các đề tài về Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản như thư mục vừa dẫn trên.


Perdre la demeure (Đánh mất cội nguồn/ Phạm Văn Ba dịch là Mất nơi ở) là một tiểu thuyết lịch sử luận đề của ông được Nhà xuất bản Gallimad xuất bản năm 1961 tại Paris.


Sách vừa ra đời thì cùng năm được Hàn lâm viện Văn chương Pháp quốc trao Giải thưởng Lớn (Grand prix du Roman de l’Académie fraǹaise) về tiểu thuyết năm 1961. Đây là một tác phẩm văn chương làm rạng danh một văn sĩ Việt Nam ở nước ngoài. Tên tuổi ông được trang trọng đề cập trong sách Une histoire vivant de la litérature d’aujourd’hui của văn sĩ, kiêm phê bình gia Pierre de Boisdeffre.


Câu chuyện mà tác giả kể trong “Đánh mất cội nguồn” (Perdre la demeure) xảy ra trong năm 1870 sau khi Minh Trị Thiên hoàng dẹp xong các sứ quân và bắt đầu duy tân nước Nhật.


Từ một năm rồi Tokyo được chọn làm kinh đô thay cho cố đô Kyoto và các kỹ sư người Anh đang xây dựng con đường sắt nối liền Tokyo với Yokohama. Một con đường sắt khác từ thành phố khác trên đảo Hokkaido đến thành phố Sapporo nằm trên bờ phía tây của đảo cũng đã được khởi công. Đường sắt chạy xuyên qua trung tâm nước Nhật và đục những dãy núi cao. Công nhân làm đường là những người Nhật, người Triều Tiên và người Ainô (người Ainô trước đây là dân bản địa ở đảo Yeso) với cả một bầu đoàn thê tử. Để canh giữ và bảo vệ công nhân có một đại đội binh sĩ của Thiên hoàng do đại úy Watakashi Hiyen chỉ huy. Watakashi thuộc giai cấp võ sĩ đạo có đầu óc phóng khoáng, thấm nhuần những tư tưởng mới, và nói khá thạo hai thứ tiếng Anh và Pháp. Nhờ biết tiếng Pháp nên Watakashi thường trò chuyện với một sĩ quan người Pháp tên là Neufville phụ trách việc dạy lính Nhật hiểu sự vận hành của các loại vũ khí mới Tây phương và cách sử dụng súng trường chassepot.


Không khí của những nơi công nhân làm việc rất tấp nập và những cảnh giao tiếp khó khăn đầy va chạm giữa người Tây phương và người Nhật. Đối với Watakashi, một người Nhật quen trầm tư mặc tưởng và trung thành với những nguyên tắc truyền thống, thì công cuộc Âu Mỹ hóa của nước Nhật là cả một vấn đề lương tâm khó giải quyết. Trước câu hỏi của đại úy Neufville: “Điểm mấu chốt hiện nay mà anh cần phải thấy rõ là: trong khi canh tân theo đường lối Tây phương, nước Nhật có nên Âu Mỹ hóa cả về mặt tinh thần không?” Watakashi đã trả lời: “Không, đại úy Neufville ạ, tôi không bao giờ chấp nhận như thế. Chúng tôi tiếp thu khoa học kĩ thuật của Tây phương nhưng vẫn nhất định không từ bỏ những gì mà người Nhật đã có từ bao ngàn đời nay”.


Ít lâu sau một sự kiện xảy ra cho thấy những do dự của Watakashi là đúng. Công trường và những người Tây phương làm việc trên công trường nhiều lần bị một người võ sĩ đạo chống đối tấn công. Người này đội mũ giát vàng, ngồi trên lưng một con tuấn mã, dùng cung tên bắn vào những người Tây phương rồi biến mất một cách xuất quỷ nhập thần. Thấy khó đánh bại được người võ sĩ đạo này bằng vũ lực, Watakashi tìm ngay vào tận chỗ ẩn nấp của hắn định thuyết phục hắn về hàng. Nhưng người võ sĩ đạo vẫn giữ khư khư những nguyên tắc riêng nên nhất quyết không nghe. Về sau hắn cũng bị Watakashi bắt được. Tuy nhiên cùng lúc Watakashi cũng đã kiểm điểm lại tất cả những giá trị của tinh thần võ sĩ đạo của mình, từ những tín ngưỡng tôn giáo đến những quy luật về danh dự, về lòng hy sinh, để cuối cùng đâm ra ngờ vực những cái hay của công cuộc Âu Mĩ hóa.


Thấy Watakashi tỏ ra khoan hồng đối với người võ sĩ đạo bị cầm tù. Các bạn đồng đội đem mọi việc tâu lên Thiên hoàng, võ sĩ Watakashi bị cách chức và bị đuổi về.


Trong lúc ấy những sĩ quan người Pháp cũng không được Minh Trị Thiên hoàng trọng dụng nữa vì nước Pháp vừa bị nước Đức đánh bại ở Sedan. Đại úy Neufville bị một sĩ quan người Đức thay thế trong công việc huấn luyện cho binh sĩ Nhật”.


Có thể xem Phạm Văn Ký là một nhà văn có những tác phẩm văn chương giúp công chúng bạn đọc Pháp, kể cả độc giả trong cộng đồng sử dụng tiếng Pháp hiểu được một phần suy nghĩ, tâm tư tình cảm của các dân tộc Á đông trong đó có Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản...


Mất nơi ở, tiểu thuyết của Phạm Văn Ký - giải thưởng lớn về tiểu thuyết của Viện Hàn lâm Pháp 1961, bản dịch của Phạm Văn Ba, NXB Hội Nhà Văn và Công ty truyền thông văn hóa Nhã Nam phát hành


Mất một chỗ cư ngụ, một ngôi nhà cụ thể, hay rộng hơn là một làng quê cụ thể thật ra cũng không có gì quá nghiêm trọng với Hizen - chàng đại úy bộ binh, một samurai đúng bản chất tốt đẹp nhất của tên gọi đó.


Nhưng Hizen đã mất nhiều hơn thế, sau khi chỉ huy công trường xây dựng đường sắt chạy qua quê hương mình: chàng mất trái tim người vợ vào tay anh chàng kỹ sư người Pháp hào hoa, mất linh hồn đứa con trai cho nhà thờ Cơ đốc giáo, mất quân hàm và chức vụ cho người em trai cùng cha cùng mẹ đã “Âu hóa” triệt để hơn mình do vậy được cấp trên tin tưởng và yêu quí hơn.


Và trên tất cả, đại úy Hizen đánh mất - hay bị tước mất nước Nhật “của mình”, với ý nghĩa sâu thẳm nhất: như một chốn nương thân, một chỗ dựa cuối cùng, một nơi để sống và để chết. Có bao nhiêu tấn hài kịch đã xảy ra trong cái bi kịch lớn lao và vĩ đại đó ở nước Nhật thời kỳ Minh Trị duy tân (những năm từ thập kỷ 1870 của thế kỷ 19).


Là một nhà văn người Việt, sang Pháp từ năm 1939, Phạm Văn Ký viết Mất nơi ở hoàn toàn với tư cách một nhà văn Pháp, bằng một thứ tiếng Pháp “rất Pháp” như dịch giả đã khẳng định, có lẽ vì thế mà ông đã được Viện Hàn lâm Pháp trao giải thưởng lớn cho tác phẩm này - một giải thưởng danh giá chỉ sau Goncourt và ưu tiên cho các nhà văn có cống hiến đặc biệt cho việc làm đẹp và làm giàu tiếng Pháp.


Nhưng cũng chính trong cuốn tiểu thuyết “rất Pháp” ấy, người đọc Việt Nam hôm nay vẫn nhận ra một nỗi niềm Á Đông rất sâu nặng mà ông trăn trở, day dứt nhiều lần trong tác phẩm, với khái niệm “da vàng” và “da trắng”, với âm và dương, với tâm linh và vật chất, với tình yêu tự do và nghĩa vụ vợ chồng...


Bốn mươi lăm năm sau khi được xuất bản và 14 năm sau khi nhà văn qua đời, Mất nơi ở trở về quê hương của tác giả chính thức vào một chiều cuối tháng ba tại Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội (L’Espace), như một kết cục đẹp đẽ và hợp lý hơn cho quá trình hòa nhập Đông - Tây, và kéo dài hơn vĩ thanh buồn của cuốn tiểu thuyết này...


Trước khi ra đi khỏi Việt Namvào năm 1939, Phạm Văn Ký từng là chủ bút của một số tờ báo ở Bình Định, Huế, Sài Gòn như Impartial (Vô Tư), Gazette de Hue; ông cũng là người đầu tiên viết lời giới thiệu cho tập Gái quê của Hàn Mặc Tử, bản in năm 1936.


Trước đó, Hàn Mặc Tử vẫn làm thơ theo lối thơ Đường, đến Gái quê, ông chuyển hẳn sang một con đường thơ khác và theo nhà thơ Tế Hanh, “chính sự cổ vũ nhiệt tình của Phạm Văn Ký trong lời tựa đầu tiên ấy đã góp phần khẳng định việc Hàn Mặc Tử gia nhập trường phái thơ mới là đúng lúc”.


Con đường mưu sinh và sáng tạo của một nhà văn nhập cư trong một thế giới có thể coi là cởi mở và cũng cực kỳ xa lạ như con đường của Phạm Văn Ký trong nền văn học Pháp là một câu chuyện rất dài và có nhiều uẩn khúc. Nhà văn Phạm Sông Hồng - con gái của nhà văn Phạm Hổ - rất thận trọng và nhẹ nhàng nói:


“Bác tôi có quá nhiều nỗi buồn, và càng buồn hơn vì ông không nói ra được. Năm 1970, khi cùng phái đoàn Việt kiều yêu nước về thăm quê lần đầu tiên sau 31 năm xa cách, ông đã rất muốn ở lại, nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một người bạn thân của ông (thú thật là tôi cũng không biết hai ông thân nhau từ bao giờ, nhưng tôi biết chắc họ cực kỳ yêu mến nhau, vẫn giữ liên lạc thường xuyên với nhau và gia đình tôi được bác Thủ tướng quí mến cũng là nhờ tình thân từ ông bác ruột), đã nói với ông: “Anh ở nước ngoài thì có lợi hơn cho Việt Nam”.


Có lẽ, bác tôi hiểu rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng muốn có một “đại sứ văn hóa” của Việt Nam như bác tôi ở nước ngoài. Ông đã quay về Pháp và sống đến cuối đời ở đó, không còn dịp nào về Việt Nam nữa”.


Nhà văn Phạm Hổ trong lời bạt cho cuốn Đường về quê xuất bản tại Việt Nam1993, sau khi Phạm Văn Ký mất cho biết: “Từ sau chuyến về thăm Tổ quốc đến lúc mất, các NXB có tên tuổi đã không chịu in cho anh tôi một quyển sách nào. Ngay tập tiểu thuyết mà NXB Gallimard đã ký hợp đồng với anh tôi trước lúc về nước, lúc sang lại, NXB cũng tìm cớ để xóa hợp đồng”. Ông Hổ cũng dẫn lời ông Võ Văn Sung, cựu đại sứ Việt Namtại Pháp: “Tôi hiểu và thương anh Ký lắm, thương như một người anh ruột. Anh là một con người chân thật, hết sức trong sáng. Anh Ký tâm sự với tôi: “Tôi thấy tôi có lỗi quá, tôi chưa đóng góp được gì cho đất nước cả”. Anh thèm được đóng góp như để bù lại những năm tháng sống xa quê hương... nhưng tính anh khí khái, chỉ muốn tự mình lo liệu, tự mình đóng góp, không muốn nhờ vào ai. Trong lúc đó thì Sự thách thức của Việt Nam các NXB đều gửi trả lại anh và khuyên anh đừng viết như thế nữa. Thế là muốn đóng góp mà không được. Nỗi buồn riêng của anh, tôi hiểu rất rõ là như vậy”.


Tuổi già, ông sống trong lặng lẽ và ra đi mà không có một người thân nào bên cạnh. Người vợ Đức của ông - một diễn viên điện ảnh khá tên tuổi - đã chia tay với ông trong tình bạn, họ không có con cái.


Phạm Văn Ký có một sức viết rất dồi dào, nhà văn Phạm Sông Hồng nói: “Một người bạn Pháp của gia đình tôi, chuyên nghiên cứu về các tác phẩm của bác tôi, nói rằng ông còn rất nhiều bản thảo đã in và chưa in, hiện được lưu trữ tại thư viện Arsenal ở Paris. Gia đình đã rất cố gắng liên hệ để có thể mang được số bản thảo đó về Việt Nam, nhưng đáng buồn là chúng tôi không chứng minh được quan hệ huyết thống của mình với bác tôi.


Trong khi giấy tờ của bác tôi ở Pháp rất đầy đủ thì 12 người em còn lại ở Việt Nam của ông - kể cả cha tôi và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, em út của ông, cũng không còn ai giữ được giấy tờ gì chứng minh họ là con đẻ của ông bà nội tôi cả.


Chiến tranh, thiên tai, những cuộc di chuyển vất vả đã làm thất lạc hết giấy tờ, trong khi phía Pháp chỉ cần những giấy tờ hợp pháp tối thiểu. Ba tôi đang ốm nặng. Ông vẫn không bao giờ hết buồn vì chưa mang được di cảo của bác tôi về Việt Nam”.


MĐ.


Tổng hợp từ nhiều nguồn.


 

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang