tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Thông tin tác giả
Phan Lạc Tuyên


 


(1928 - 2011)


Sinh năm 1928 tại Hữu Bằng, Thạch Thất, Sơn Tây. Mất lúc 19h15 ngày 10/11/2011 tại chùa Diệu Pháp, P 13 Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, hưởng thọ 84 tuổi.




Là hậu duệ đời thứ 13 của họ Phan cự phách ở làng Hữu Bằng, Thạch Thất, Sơn Tây. Năm 1951, đang học năm thứ hai Trường Luật, Phan Lạc Tuyên được quân đội vét vào danh sách đào tạo Sĩ quan trừ bị khoá I của  Quân đội Quốc gia Việt Nam, chung khoá với một loạt tên tuổi sau này sẽ là những tướng lĩnh chóp bu của quân đội Sài Gòn như Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Đức Thắng, Bùi Đình Đạm, Nguyễn Bảo Trị, Chung Tấn Cang, Lê Nguyên Khang v.v…



Từng là chỉ huy cánh quân quan trọng đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm. Sau đảo chính thất bại, Phan Lạc Tuyên chính thức tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam VN. Tháng 7.1963, nhóm Phan Lạc Tuyên được Trung ương Cục bí mật điều động về khu giải phóng. Năm 1965, Phan Lạc Tuyên cùng phái đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN từ khu giải phóng công khai trở lại Phnom Penh tham dự Hội nghị Nhân dân Đông Dương do chính phủ vương quốc Campuchia đăng cai. Tại hội nghị, Phan Lạc Tuyên thay mặt nhóm đảo chính 11.11.1960 đọc tham luận chính trị gây tiếng vang rất lớn ở Sài Gòn lúc bấy giờ. Sau đó, ông là Ủy viên phái đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam VN tại Hà Nội.


 


Đi học ở Ba Lan, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Dân tộc học.


 


Làm việc tại Viện Khoa học Xã hội miền Nam, chuyên ngành Dân tộc. Học viện – lúc đó gọi là trường Cao cấp Phật học Việt Nam-mời phụ trách môn Văn minh Việt Nam; Giảng dạy ở HVPGVN tại TP. HCM ngay từ khóa đầu tiên và trải qua 5 khóa.


 


Phát tâm Quy y Tam bảo pháp danh là Nguyên Tuệ.Năm 2008, 83 tuổi, ông kiên quyết vào ở hẳn trong chùa. Ngôi chùa mà ông chọn ở là chùa Diệu Pháp ở P.13, Bình Thạnh, cuối con đường Nơ Trang Long.


 


Mất tại chùa này năm 2011.


 


Phan Lạc Tuyên đã sớm nổi tiếng với bài thơ Tình quê hương năm 1958; được Đan Thọ phổ nhạc.


 


Năm 1956, những người kháng chiến cũ bị Diệm giam giữ ở nhà tù Tân Hiệp đã tổ chức vượt ngục tìm đường về căn cứ. Phan Lạc Tuyên được lệnh truy sát họ. Trong quyển sách nhan đề Cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp 2.12.1956 do những người cựu tù chính trị ở Đồng Nai viết về sự kiện ấy, có đoạn như sau: “Đại úy Phan Lạc Tuyên lúc đó đang chỉ huy một đơn vị hành quân truy kích đoàn tù chính trị vượt ngục ở hướng chiến khu D. Khi phát hiện dấu vết của đoàn, anh ra lệnh cho đơn vị đi về ngã khác, đồng thời giả vờ đánh rơi lương thực dọc đường cố ý giúp cho đoàn...”. Hiện nay, trong phòng truyền thống của đoàn cựu tù chính trị Tân Hiệp có cả chân dung của Phan Lạc Tuyên và hằng năm đến ngày kỷ niệm ấy, ông thường được mời về tham dự.


 


Phan Lạc Tuyên có một giai đoạn "tương đối dễ chịu": được bố trí vào Trường Chỉ huy và Tham mưu, làm chủ bút tạp chí Đại học Quân sự và giảng dạy môn Binh pháp Á Đông. Ít lâu sau, vào tháng 9.1957, Phan Lạc Tuyên được gửi sang Mỹ học trường báo chí ở New York cùng với học viên sĩ quan quân đội các nước đồng minh của Hoa Kỳ.


 


 


 


Sau khi tốt nghiệp về nước, Phan Lạc Tuyên được bổ nhiệm làm chỉ huy phó Liên đoàn Biệt động quân - Quân khu thủ đô. Điều bất ngờ là một hôm, vào đầu năm 1960, Ngô Đình Diệm cho mời Phan Lạc Tuyên vào gặp riêng ở phủ Tổng thống. Ngô Đình Diệm nói: “Lâu nay tôi có theo dõi những bài của ông trên báo Đại học Quân sự. Ông là người có năng lực như thế mà để làm ở chỗ ấy thì cũng uổng phí. Nếu ông đồng ý, tôi sẽ bổ nhiệm ông làm tỉnh trưởng Bình Dương, phụ trách hành chính lẫn quân sự. Ông sẽ là tỉnh trưởng trẻ nhất. Ý kiến ông thế nào?”. Lần đầu tiên đối diện với “Ngô Tổng thống”, Phan Lạc Tuyên nhận thấy Diệm có đôi mắt sắc bén, khuôn mặt lạnh lùng vô cảm, giọng nói đều đều, không một lời dư thừa và không một nụ cười. Phan Lạc Tuyên suy nghĩ rất nhanh: “Nếu nhận lời, mình sẽ trở thành gia nô của ông ta. Nếu từ chối ngay, cũng sẽ rất khó sống. Tốt nhất là hoãn binh chi kế”. Bèn lễ phép trả lời: “Đây là việc quan trọng trong đời tôi, xin Tổng thống cho tôi về thưa lại với thân sinh để ông cụ quyết định, chứ phận làm con không dám tự chuyên”. Thật ra, lúc này Phan Lạc Tuyên và một số sĩ quan khác đã bắt đầu âm thầm xúc tiến kế hoạch đảo chính lật đổ Diệm - Nhu.


 


Cuộc đảo chính đã bùng nổ vào ngày 11.11.1960. Phan Lạc Tuyên kéo 10 đại đội biệt động quân và một tiểu đoàn pháo 12 khẩu 105 ly từ Tây Ninh tiến công vào Sài Gòn. Quân đảo chính nhanh chóng đánh chiếm đài phát thanh Sài Gòn, bộ Tổng tham mưu, đánh tan Lữ đoàn Liên binh phòng vệ phủ Tổng thống, bắt sống đại tướng Lê Văn Tỵ - Tổng tham mưu trưởng và trung tướng Thái Quang Hoàng - Tư lệnh Quân khu thủ đô, hai nhân vật đầu não trong quân đội Diệm rồi bao vây phong tỏa phủ Tổng thống. Cánh quân của Phan Lạc Tuyên chiếm giữ Bộ Tổng tham mưu với một khẩu đội trọng pháo và 2.000 viên đạn sẵn sàng san bằng phủ Tổng thống. Nhưng Ngô Đình Diệm dùng kế hoãn binh, thương lượng với nhóm sĩ quan đảo chính xin cho ông ta có thời gian sắp xếp, bàn giao quyền hành trước khi ra nước ngoài. Trong khi đó, Diệm đã huy động quân đội các nơi về ứng cứu. Mờ sáng 12.11.1960, các sư đoàn thiết giáp và thủy quân lục chiến của Trần Thiện Khiêm, Huỳnh Văn Cao đã kéo về. Các lực lượng khác của Tôn Thất Xứng, Lê Nguyên Khang, Chung Tấn Cang... cũng tập họp lại phản kích. Quân đảo chính cốt ở đánh nhanh rút gọn, nay bị căng mỏng ra nên lần lượt thất thủ. Các sĩ quan cầm đầu như Vương Văn Đông, Nguyễn Chánh Thi... lên một chiếc máy bay vận tải đem theo tướng Thái Quang Hoàng làm con tin sang Campuchia tị nạn chính trị. Rõ ràng đây là một cuộc binh biến hoàn toàn tự phát, không hề có thế lực nào ở đằng sau hay bên ngoài hỗ trợ.


 


 


 


Nguyễn Cao Kỳ, khi ấy là đại úy không quân, tình nguyện lái máy bay đưa các đại ca đi lánh nạn, nhưng nhóm đảo chính đã bố trí đại úy Phan Phụng Tiên lo việc này nên ông Kỳ đành ở lại. Riêng cánh quân của Phan Lạc Tuyên đóng ở Bộ Tổng tham mưu thì rút theo đường bộ qua cửa khẩu biên giới Gò Dầu - Tây Ninh rồi cũng đến Campuchia trong ngày hôm đó.


 


 


 


Sau hơn một năm bị chính quyền Campuchia quản thúc ở Phnom Penh, các thành viên của nhóm đảo chính có một số như Vương Văn Đông, linh mục Hồ Văn Vui... xin qua Pháp, Nguyễn Chánh Thi xin qua Mỹ. Riêng nhóm của Phan Lạc Tuyên xin được trở về vùng giải phóng miền Nam Việt Nam để tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nguyên hồi còn ở Sài Gòn, Phan Lạc Tuyên nhận được một lá thư của cách mạng viết: “Biết ông có lòng yêu nước, mong ông đem lòng yêu nước và tinh thần dân tộc để đóng góp cho cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”. Mãi về sau Phan Lạc Tuyên mới biết người gửi cho ông lá thư ấy là đồng chí Mười Cúc (tức Nguyễn Văn Linh), nhưng ngay từ những ngày đầu bị quản thúc ở Phnom Penh, nhóm Phan Lạc Tuyên và một số đồng đội như Năm Thúc, Sáu Nghĩa (Thái Trần Trọng Nghĩa: nhà văn Thủy Thủ, Tư Minh) đều đã khẳng định quyết tâm đi theo cách mạng. Cơ sở cách mạng ở Phnom Penh là tờ báo Trung Lập do ông Trần Văn Kiêm làm chủ bút. Phan Lạc Tuyên và Thủy Thủ tích cực viết bài cho báo Trung Lập, ngoài ra còn cộng tác với tờ La Dépêche de Cambodge (Tin nhanh Campuchia), có quan điểm tiến bộ, gây được ảnh hưởng mạnh mẽ trong cộng đồng Việt kiều ở Campuchia. Hóa ra những điều học được trong trường báo chí ở New York, giờ đây lại rất có ích cho ông trong cuộc chiến đấu bằng ngòi bút.


 


Xuất thân từ một gia đình khoa bảng ở đất Bắc (Thạch Thất - Sơn Tây), từ cuối đời Lê có tiến sĩ Phan Bảng được khắc tên trong bia đá ở Văn Miếu Hà Nội. Bởi vậy, sau khi đã làm nhiệm vụ của người trai thời chiến, Phan Lạc Tuyên lại quay trở về với truyền thống bút nghiên của gia tộc. Tình yêu quê hương ngọt ngào giấu trong áo lính. Là con nhà nòi của dòng họ Phan Lạc nổi tiếng khoa bảng vùng Thạch Thất (Hà Tây), ông kể lại mầm mống của sự xoay chuyển suy nghĩ, ý tưởng trong mình với đạo diễn Nguyễn Hoàng trong quá trình làm phim Phan Lạc Tuyên - Cuộc lữ hành: “Tất nhiên tôi thần tượng Hồ Chí Minh. Và tôi còn mê đọc sách, giữa các cuộc hành quân thường lên Thư viện quốc gia. Ở đó tôi được đọc mấy cuốn sách tiếng Pháp về chiến tranh nhân dân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tinh thần tôi bắt đầu ngả về phía Bắc từ đó”.


 


 


 


Dấn thân theo tình yêu quê hương dẫn dắt Phan Lạc Tuyên về phía Bắc. Một bức thư của ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) mời tham gia công cuộc thống nhất đất nước đã dẫn ông đến với những mái lá trung quân giữa rừng của Mặt trận dân tộc giải phóng. Cuối đời, bức ký họa gian làm việc, sinh hoạt đơn sơ mà thơ mộng với cánh võng, bàn tre và hai giò phong lan trong cuốn sổ công tác 1964 đã được ông cho chụp lại, phóng to treo ở đầu giường để nhắc nhớ những ngày hào hùng trai trẻ.


 


Một nguyên nhân khác nữa gợi lên lòng mong muốn được trở về miền Bắc trong Phan Lạc Tuyên là sự ham mê lịch sử. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan kể: “Ông bảo khi đọc được các tin tức miền Bắc tìm thấy mũi tên đồng ở Cổ Loa, cọc Bạch Đằng dưới đáy sông, trong ông dội lên một khao khát lớn được tìm về cội nguồn của dân tộc”. Có lẽ chính vì thế mà sau vài năm hoạt động cùng mặt trận, ông đã rẽ ngang đường quân sự sang con đường khoa học, chuyên tâm học và tu nghiệp để trở thành một học giả nổi tiếng trong ngành dân tộc học, tôn giáo học.


 


Phan Lạc Tuyên: "Gia tộc tôi thuộc truyền thống khoa bảng. Từ đời Lê đến tôi có 2 vị đậu tiến sĩ. Bản thân tôi cũng là bạch diện thư sinh, bị động viên đi lính khi đang học năm 2 trường Luật Hà Nội. Vào quân đội rồi, nghiệp bút nghiên vẫn cứ đeo đuổi. Tôi dạy ở Trường Chỉ huy và Tham mưu, và làm chủ bút tạp chí Đại học Quân sự Sài Gòn. Nói như vậy để thấy rằng dòng máu khoa bảng luôn nóng chảy trong người tôi, còn việc chiến chinh chỉ là thời cuộc mà thôi. Nên khi đất nước thống nhất, tôi trở về với chính con người của tôi, con người văn chương học thuật. Tôi còn nhớ một mẩu chuyện vui về quyết định đi dạy của mình thế này. Đó là sau khi giải phóng miền Nam, tôi ở nước ngoài về gặp cụ Phạm Văn Đồng khi ấy đang là Thủ tường. Cụ hỏi tôi có đề nghị gì không, tôi đề nghị là được đi dạy học. Cụ phá lên cười sảng khoái, bảo tôi rằng tưởng đề nghị gì, chứ đi dạy học thì quá đơn giản. Tôi nói: “Vâng, thưa Thủ tướng! Nhưng mà sách vở, tài liệu tôi sưu tầm nhiều lắm, lúc này phương tiện đi lại rất khó khăn, xin Thủ tướng giúp đỡ”. Thủ tướng nói ngay: “Được! Có xe của chị Bình (tức bà Nguyễn Thị Bình) đi công tác ở nước ngoài để không đấy, lấy cho đồng chí Tuyên mượn”. Thế là tôi bắt đầu con đường đi dạy học từ đó và mãi cho tới bây giờ...".


 


 


 


 

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
05.04.2016
Mùa xuân lịch sử (thơ)
04.04.2016
Tình quê hương (thơ)