Tự Mộng Trưng, quê Thư Châu (An Huy) lúc trẻ ở Tây Sơn, Hồng Châu, sau nương tựa Thứ sử Kiến Châu Lý Tần. Lý chết, Tào lưu lạc giang hồ. Năm Quang Hoà thứ tư đời Đường Chiêu Tông, Tào đỗ Tiến sỹ. Nhà Vua lúc ấy vừa bình xong nội loạn, rất vui mở khoa thi lấy tân Tiến sỹ, đã đặc cách cho Tào Tùng và ba người nữa làm Hiệu Thư Lang (trong Bí thư sảnh-cấp bậc "lang trung" (như cỡ vụ trưởng bây giờ) làm công việc trứ thuật, soạn văn bản cho nhà Vua).
Thơ Tào Tùng là lối thơ "lữ du", phong cách theo thơ Giả Đảo, ý cảnh thâm u, hay ở chỗ "thôi xao" luyện câu, chọn chữ. Tào Tùng thi tập 3 quyển. Tào Tùng cũng giống Thôi Hiệu (nhưng ở dưới một tầm thuộc diện viết không ít,, nhưng chỉ có một bài tuyệt tác để đời).Tương truyền đại thi hào Lý Bạch đi chơi Vũ Xương lên lầu Hoàng Hạc xem thấy bài thơ của Thôi Hiệu bèn cầm bút đề vào vách hai câu:
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.
(Trước mắt có cảnh không tả được/ Vì có thơ Thôi Hiệu ở trên đầu)
Với Tào Tùng đó là bài thơ "Kỷ Hợi Tuế".
Kỷ Hợi Tuế (879) Trấn Hải Tiết Độ Sứ là Cao Biền (đã từng sang Giao Chỉ-An Nam ta dẹp quân Nam chiếu, xây thành Đại La, sau là Thăng Long-Hà Nội về được Vua Đường phong là Bột Hải Quận Vương thống lĩnh cả một vùng Chiết Giang-Giang Nam(xưa là Trạch Quốc). Cao Biền đã cầm quân giết hại tàn khốc quân khởi nghĩa Hoàng Sào...
Bài thơ của Tào Tùng là vịnh sự việc này.
|