|
(26 tháng 7 năm 1856 – 2 tháng 11 năm 1950)
Nhà soạn kịch người Anh gốc Ireland, Nobel Văn học năm 1925.
George Bernard Shaw sinh ở Dublin, là con thứ ba của George Carr Shaw (1814 – 1885) và Lucinda Elizabeth Shaw (1830 – 1913). Cha trước làm công chức sau chuyển sang buôn ngũ cốc bị thua lỗ trở thành người nghiện rượu, mẹ là ca sĩ chuyên nghiệp, chị gái của Lucinda Frances (1853 – 1920)– cũng là một nữ ca sĩ opera nổi tiếng. Lúc nhỏ Shaw học kém nhưng lại có khiếu về âm nhạc, sớm hiểu và yêu thích tác phẩm của các nhạc sĩ danh tiếng, học thêm về hội họa ở Dublin. Lúc 15 tuổi ông làm nhân viên tập sự, thủ quỹ cho một hãng bất động sản. Năm 1876, ông theo mẹ và hai chị đến London sinh sống, viết các bài phê bình âm nhạc cho các báo để kiếm tiền, tự học, quan tâm và tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Năm 1884 ông tham gia thành lập Hội Fabian (Fabian Society) - tổ chức của các trí thức Anh chủ trương quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường hòa bình.
Thời kì 1879-1883, Shaw viết tiểu thuyết đầu tay Immaturity (Non nớt) và 5 tác phẩm khác nhưng chưa được in; cuốn An Unsocial Socialist (Một người xã hội chủ nghĩa phi xã hội, 1884) là tiểu thuyết đầu tiên được in năm 1887.
Shaw được coi là cha đẻ của "kịch ý niệm", ông bắt đầu sáng tác kịch từ năm 1885, nhưng bắt đầu nổi tiếng với vở Widowers' Houses (Những ngôi nhà của những người góa vợ, 1892). Đến năm 1903, kịch của ông chiếm lĩnh sân khấu Mỹ, Đức; năm 1904 chiếm lĩnh sân khấu trong nước. Ông càng nổi tiếng thêm khi vua Anh đến dự buổi biểu diễn vở John Bull's Other Island (Hòn đảo khác của John Bull, 1904), sau đó kịch của ông lan tràn sang các nước châu Âu. Shaw được coi là nhà soạn kịch xuất sắc nhất nước Anh, ông muốn dùng nghệ thuật để thức tỉnh con người trước yêu cầu phải thay đổi trật tự tư sản với tất cả các thể chế và tập tục của nó. Ông nhấn mạnh đến chức năng giáo dục của sân khấu, nhưng xem chức năng giáo dục không phải là sự áp đặt từ phía nhà viết kịch mà là khơi dậy nhu cầu thẩm mĩ của chính khán giả. Những vấn đề gay gắt của xã hội đương thời như thế lực khuynh đảo của đồng tiền, các kiểu bóc lột, tình trạng nghèo khổ của người dân kéo theo các tệ nạn xã hội được phản ánh rõ nét trong kịch của Shaw. Phong cách kịch của Shaw thiên về trào lộng, châm biếm, tìm đường đến chân lý thông qua những nghịch lý.
Ông đi du lịch nhiều nơi ở các nước châu Âu, châu Phi, Liên Xô... Trong 2 năm 1932-1933 ông đi vòng quanh thế giới, thăm châu Mỹ và Nhật Bản.
Năm 1923, vở Saint Joan (Nữ thánh Joan) ra đời và được đánh giá là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Shaw, hai năm sau ông được nhận giải Nobel. Shaw dùng tiền thưởng của giải thành lập Quỹ Văn học dành cho các tác giả viết kịch. Ông mất năm 1950 tại nhà riêng ở Hertfrordshire, Anh.
Tác phẩm:
George Bernard Shaw năm được trao giải Nobel (1925)
Immaturity (Non nớt, 1879), tiểu thuyết
The Irrational Knot (Cuộc hôn nhân không hợp lý, 1880), tiểu thuyết
Love Among the Artists (Tình nghệ sĩ, 1881), tiểu thuyết
Cashel Byron's Profession (Nghề của Cashel Byron, 1882), tiểu thuyết
An Unsocial Socialist (Một người xã hội chủ nghĩa phi xã hội, 1884), tiểu thuyết
The Man of Destiny (Con người của số phận, 1885), kịch
You Never Can Tell (Bạn chẳng bao giờ nói được, 1886), kịch
The quintessense of Ibsenism (Tinh túy của chủ nghĩa Ibsen, 1891), khảo cứu
Widowers' Houses (Những ngôi nhà của những người góa vợ, 1892), kịch
The Philanderer (Anh chàng hào hoa, 1893), kịch
Arms and the Man (Vũ khí và con người, 1894), kịch
The Devil's Disciple (Đồ đệ của quỷ, 1896-1897), kịch
Caesar and Cleopatra (Caesar và Cleopatra, 1901), kịch
Mrs. Warren's Profession (Nghề nghiệp của bà Warren, 1902), kịch
Man and Superman (Con người và siêu nhân, 1903), kịch
John Bull's Other Island (Hòn đảo khác của John Bull, 1904), kịch
Major Barbara (Thiếu tá Barbara, 1905), kịch
The Doctor's Dilemma (Tình trạng tiến thoái lưỡng nan của người bác sĩ, 1906), kịch
Fanny's Frist Play (Vở kịch đầu tay của Fanny, 1909), kịch
The Shewing Up of Blanco Posnet (Vạch trần Blanco Posnet, 1909), kịch
Misalliance (1910), kịch
Pygmalion (1912), kịch
Androcles and the Lion (Androcles và sư tử, 1913), kịch
Common Sense about the War (Suy nghĩ lành mạnh về chiến tranh, 1914), tiểu luận
Augustus does his bit (Augustus thực hiện nghĩa vụ của mình, 1917), kịch
Heartbreak House (Ngôi nhà trái tim tan vỡ, 1919), kịch
Back to Methuselah (Trở lại Methuselah, 1921), kịch
Saint Joan (Nữ thánh Joan, 1923), kịch
The Intelligent Woman's Guide to Socialism and Capitalism (Cẩm nang về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản dành cho phụ nữ, 1928), tiểu thuyết tường thuật
The Apple Cart (Xe chở táo, 1929), kịch
Too True To Be Good (Xấu nhưng là sự thật, 1931), kịch
On the Rocks (Mắc cạn, 1933), kịch
Millionainess (Nữ triệu phú, 1936), hài kịch
Buoyant Billions (Bạc tỉ của Buoyant, 1946-1948), kịch
Shakes versus Shaw (Shakes chống lại Shaw, 1949), kịch
Farfetched fables (Những truyện ngụ ngôn khó tin, 1950), kịch.
|