|
(1901-1956)
Nhà vǎn Xô Viết nổi tiếng, sinh ngày 24-12-1901.
Nǎm 1918, ông gia nhập Đảng Cộng sản bí mật. Nǎm 21 tuổi, ông là Chính ủy Lữ đoàn du kích. Trong một trận đánh quân phiến loạn, ông bị thương. Sau đó, ông vào Đại học Mỏ rồi sáng tác vǎn học. Nǎm 1923, ông cho ra đời những truyện ngắn đầu tay: "Ngược dòng", "Nước lũ"; sau đó là các tác phẩm lý luận: "Trong ba mươi nǎm"; rồi các tiểu thuyết: "Chiến bại", "Người cuối cùng của bộ tộc Uđêghê", "Đội cận vệ thanh niên". Các sáng tác của ông nổi bật tư tưởng tính đảng sâu sắc, góp phần hoàn thiện phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ông là Chủ tịch Hội Nhà vǎn Liên Xô, Phó Chủ tịch Phong trào Hòa bình Thế giới, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Đại biểu Xô Viết Tối cao Liên Xô.
Ông tự sát (tự bán vào tim, vào buổi sáng, tại nhà mình) ngày 13-05-1956 do khủng hoảng tư tưởng.
*là nhân vật quan trọng chủ chốt của nền văn học Liên Xô trước đây. Ông vào gia Đảng Cộng sản năm 1918, sau đó gia nhập Hồng quân. Năm 1937 ông đã tới thăm Tây Ban Nha trong thời kỳ nội chiến ở nước này. Trong cuộc Chiến tranh Xô - Đức (1941 - 1945) ông làm phóng viên mặt trận cho hai từ báo Pravda (Sự Thật) và Izvestiya (Tin Tức). Sau chiến tranh ông trở lại hoạt động chính trị, thăm Anh (1947), Iceland và Ba Lan (1949), Tiệp Khắc và Áo (1951). Ông đã được hai huân chương Lênin, là một trong những người lãnh đạo của Hội nhà văn vô sản Nga. Năm 1934 ông được bầu vào Đoàn chủ tich Hội Nhà văn xô viết và là Tổng thư ký tổ chức này từ 1946 đến 1954. Năm 1939 ông được bầu vào BCHTƯ Đảng. Tác phẩm chính của ông gốm các tiểu thuyết: Chiến bại (1927), Đội cận vệ thanh niên (1945), Người cuối cùng của bộ lạc Udege (viết dở), Luyện kim đen (viết dở). - Theo Báo "Argumenty i facty" số 20 (14/5/2003).
|