
(1935-2003).
Họ và tên khai sinh: Hà Đức Trọng. Sinh ngày 01 tháng 12 năm 1935. Từ trần lúc 19 giờ 15 ngày 17-6-2003 (nhằm ngày 17 tháng Năm âm lịch). Theo người anh ruột và chị ruột của Thu Bồn kể trong tác phẩm Thu Bồn – Gói nhân tình, NXB Văn học, 6-2004, thì Thu Bồn sinh ngày 10 tháng 12 năm Ất Hợi, tức ngày 04-1-1936. Quê quán: xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1962. Ông tham gia thiếu sinh quân từ năm mười hai tuổi. Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, có mặt tại các chiến trường gian khổ và ác liệt như Tây Nguyên, Khu V, Quảng Trị, biên giới Tây Nam. Ông từng là biên tập viên Tạp chí Văn Nghệ Quân Giải phóng Trung Trung Bộ; Biên tập và Cán bộ sáng tác của Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Tác phẩm chính: Bài ca chim Chrao (trường ca, 1962); Tre xanh (thơ, 1969); Mặt đất không quên (thơ, 1970); Quê hương mặt trời vàng (trường ca, 1975); Badan khát (trường ca, 1976); Cămpuchia hy vọng (trường ca, 1978); Oran 76 ngọn (trường ca, 1979); Người vắt sữa bầu trời (trường ca, 1985); Thông điệp mùa xuân (trường ca, 1985); Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (thơ, 1992); Ôi nhớ mưa nguồn (thơ, 1999); Chớp trắng (tiểu thuyết, 1970); Hòn đảo chân ren (tiểu thuyết, 1972); Dòng sông tuổi thơ (tiểu thuyết, 1973); Những đám mây màu cánh vạc (tiểu thuyết, 2 tập, 1975); Em bé trong rừng thốt nốt (truyện, 1979); Đỉnh núi (tiểu thuyết, 1980); Mắt bồ câu và rừng phi tiễn (tiểu thuyết, 1986); Vùng pháo sáng (tiểu thuyết, 1986); Cửa ngõ miền Tây (tiểu thuyết, 1986); Em bé vào hang cọp (tiểu thuyết, 2 tập, 1986); Dưới tro (truyện ngắn, 1986).
Giải thưởng văn học: Giải thưởng văn học Hội Nhà văn Á-Phi, 1973, với trường ca Bài ca chim Chrao.
- Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt I, năm 2001.
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, năm 2016.
|