tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Thông tin tác giả
Trần Huyền Trân
 


(1913-1989)


Tên thật Trần Đình Kim, là một nhà thơ, nhà hoạt động sân khấu Việt Nam.


Sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 tại Hà Nội, mất ngày 22 tháng 4 năm 1989 tại Hà Nội.


Quê gốc: Hưng Yên. Tham gia phong trào Thơ mới. Sau Cách mạng tháng Tám, tham gia Việt Minh, làm việc ở đoàn kịch Tháng Tám, lên Việt Bắc chống Pháp. Sau 1954, Trần Huyền Trân chuyển sang hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực sân khấu. Cùng với một số người bạn như Lộng Chương, Lưu Quang Thuận, Hà Văn Cầu, Nguyễn Đình Hàm... các ông đã bỏ tiền túi ra thành lập nhóm chèo Cổ Phong để có nơi bảo lưu những giá trị nghệ thuật của dân tộc và đào tạo nghề cho các lớp diễn viên. Ông là người đã dày công sưu tầm, chỉnh lý những tích chèo cổ, những trích đoạn đã trở thành mẫu mực của nghệ thuật chèo (như Vân Dại, Quan Âm Thị Kính...).


- Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.


Tác phẩm:


Sau ánh sáng (1940)


Bóng người trên gác binh (1940)


Tấm lòng người kỹ nữ (truyện-1941)


Người ngàn thu cũ (truyện-1942)


Phá xiềng


19-8 (kịch)


Rau tần. Thơ. (1986)


Chim lồng (truyện)


Lẽ sống (truyện)


Lên đường


Tú Uyên (kịch)


Giáng Kiều (kịch)


Hoài Thanh đã viết rằng: ông đọc Trần Huyền Trân và "Đã tìm thấy ở đây cái thú của người đi đổi gió". Ông để lại nhiều bài thơ nổi tiếng: Mười năm, Độc hành ca, Uống rượu với Tản Đà... và sau này là Mưa đêm lều vó,...


Bút danh Trần Huyền Trân của ông có nguồn gốc như sau: trong số những cô gái làm việc cho quán hát cô đầu có một cô gái cũng mang họ Trần do có mang (bầu, thai) nên bị đuổi việc. Thương cảm trước hoàn cảnh éo le của cô gái, ông đã đứng ra cưu mang, lo cho cô sinh nở và khi cô sinh con gái ông đã đặt tên là Trần Huyền Trân (ý nói hai người họ Trần vì "Trân" thêm dấu huyền thành "Trần"). Sau đó ông dùng bút danh là Trần Huyền Trân.


wikipedia

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
22.10.2018
Khóc Tản Đà (thơ)
22.10.2018
Nhớ nhau (thơ)
18.02.2017
"Lai lịch" bài Mộng uống rượu với Tản Đà (thơ)
26.08.2012
Trần Huyền Trân, Thơ (thơ)
26.08.2012
Rau Tần (thơ)