Nobel văn chương 2010.
Jorge Mario Pedro Vargas Llosa (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [ˈmaɾjo ˈβarɣas ˈʎosa]) (sinh 28 tháng 3 năm 1936) là một nhà văn, nhà báo, chính trị gia người Perú. Vargas Llosa là một trong những cây bút Mỹ La Tinh nổi trội trong lĩnh vực tiểu quyết và tiểu luận, cũng là một trong những tác giả hàng đầu thuộc thế hệ của mình.[1]
- Giải Jerusalem năm 1995, Giải Hòa bình của ngành kinh doanh sách Đức năm 1996 và Giải Nobel Văn học năm 2010.
Tác phẩm
Hư cấu
1959 – Los jefes (1979)
1963 – La ciudad y los perros (1966)
1966 – La casa verde (1968)
1969 – Conversación en la catedral (1975)
1973 – Pantaleón y las visitadoras (1978)
1977 – La tía Julia y el escribidor (1982)
1981 – La guerra del fin del mundo (1984)
1984 – Historia de Mayta (1985)
1986 – Quién mató a Palomino Molero? (1987)
1987 – El hablador (1989)
1988 – Elogio de la madrastra (1990)
1993 – Lituma en los Andes (1996)
1997 – Los cuadernos de don Rigoberto (1998)
2000 – La fiesta del chivo (2002)
2003 – El paraíso en la otra esquina (2003)
2006 – Travesuras de la niña mala (2007)
Không hư cấu
1971 – García Márquez: historia de un deicidio
1975 – La orgía perpetua: Flaubert y "Madame Bovary"
1990 – La verdad de las mentiras: ensayos sobre la novela moderna
1993 – El pez en el agua. Memorias
1996 – La utopía arcaica: José María Arguedas y las ficciones del indigenismo
1997 – Cartas a un joven novelista
2001 – El lenguaje de la pasión
2004 – La tentación de lo imposible
2007 – El Pregón de Sevilla
Kịch
1952 – La huida del inca
1981 – La señorita de Tacna
Jorge Mario Pedro Vargas Llosa là nhà văn thứ sáu của châu Mỹ La tinh đoạt giải này, sau Gabriela Mistral (năm 1945, người Chile), Miguel Ángel Asturias (1967, Guatemala), Pablo Neruda (1971, Chile), Gabriel García Márquez (1982, Colombia) và Octavio Paz (1990, Mexico).
Jorge Mario Pedro Vargas Llosa sinh ngày 28 tháng 3.1936 tại Arequipa, một thành phố phía nam Peru, con của ông Ernesto Vargas Maldonado và bà Dora Llosa Ureta. Cha mẹ bỏ nhau ngay từ trước khi Mario sinh ra, cậu bé sống với mẹ và ông bà ngoại ở Cochabamba (Bolivia). Gia đình dời về Piura (Peru) khi ông cụ về làm công chức ở đấy. Năm 1947, cha mẹ Mario quyết định tái hợp và định cư ở Lima, thủ đô của Peru. Mario theo học trường Thiên chúa giáo tại Lima và sau đó được cha gửi vào trường quân đội Leoncio Prado. Tốt nghiệp trung học, ông học luật và văn chương tại Lima và Madrid. Năm 1955, ông thành hôn với bà Julia Urquidi và năm 1959 đến Paris sinh sống, dạy học và cộng tác với thông tấn xã Agence France Presse và Đài truyền hình Pháp. Cuộc đời viết văn của ông bắt đầu với tác phẩm Los Jefes2 phát hành ở Barcelona năm 1959 nhưng tên tuổi ông chỉ nổi lên trên văn đàn thế giới với quyển La Ciudad y los Perros (1963), kể lại những gì ông đã trải qua tại trường Leoncio Prado và gây nhiều tranh cãi ở Peru. Các sĩ quan của trường đã tổ chức đốt trước công chúng 1000 bản cuốn tiểu thuyết này. Năm 1964, Vargas Llosa ly dị bà Urquidi và năm sau cưới em họ của mình là bà Patricia Llosa. Sau khi sống ở Paris, Lima, Luân Đôn và Barcelona, ông quay trở lại Lima năm 1974 và được bầu vào Viện hàn lâm Peru năm 1975. Ông đã giảng dạy tại nhiều đại học ở Mỹ, châu Mỹ La tinh và châu Âu. Năm 1990, ông ra tranh cử tổng thống ở Peru dưới lá cờ của liên minh FREDEMO nhưng thất bại. Ông là người châu Mỹ La tinh đầu tiên được bầu vào Viện hàn lâm Tây Ban Nha, năm 1994, và chia thời gian sống giữa Barcelona, Madrid, Lima, Paris và Luân Đôn.