|
Họ và tên khai sinh: Lưu Trọng Lư. Sinh ngày 19 tháng 6 năm 1912. Quê quán: Bắc Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Mất ngày 10 tháng 8 năm 1991 tại hà Nội.
Là một trong những chủ tướng của phong trào Thơ mới trước 1945. Từ cách mạng 8-1945 trở đi liên tục hoạt động văn hóa Văn nghệ ở chiến khu và Hà Nội. Từng là Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam; Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 2.
Tác phẩm: Người sơn nhân (truyện, 1933); Chiếc cáng xanh (truyện, 1941); Khói lam chiều (truyện, 1941); Tiếng thu (thơ, 1939); Tỏa sáng đôi bờ (thơ, 1959); Người con gái sông Gianh (thơ, 1966); Từ đất này (thơ, 1971); Mùa thu lớn (tùy bút, hồi ký, 1978); Nữ diễn viên miền Nam (kịch bản cải lương); Cây thanh trà (kịch bản cải lương); Xuân Vỹ Dạ (kịch nói); Anh Trỗi (kịch nói); Nửa đêm sực tỉnh (hồi ký, 1989)...
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, đợt II, năm 2000.
* Tác giả tập thơ Tiếng thu có lẽ là một trong những trường hợp tiêu biểu của quy luật: “Văn tức là người”. Hoài Thanh từng nhận xét: “Giá một ngày kia Lư có nhảy xuống sông ôm bóng trăng mà chết, ta cũng không nên ngạc nhiên một tý nào” (Thi nhân Việt Nam). Nguyễn Vỹ nhớ lại: “Mỗi lần gặp, tôi có cảm tưởng như Lư là một vong hồn vất vưởng, nay đây mai đó, như mây như gió, phiêu bạt giữa trần gian” (Văn thi sĩ tiền chiến)…
Một vài nhận xét trên có thể coi là những nét khắc đầy sinh động về Lưu Trọng Lư, thi sĩ tài hoa, tác giả của tập Tiếng thu bất hủ trong văn học Việt Nam.
Nguồn: Góp lời thiên cổ sự, NXB Văn học, 1992.
|